Tư vấn marketing

Sản phẩm và dịch vụ của bạn mang lại giá trị gì?

Phong thủy khai vận

Khai thông khí vận, sức khỏe - tài lộc - sự nghiệp

Quý Hải | Nhà tư vấn

Thực tế - tinh tế khi ứng dụng trong cuộc sống

Khai vận năm Bính Thân 2016

Sức khỏe - Sự nghiệp - Tài lộc để đảm bảo một cuộc sống Hạnh Phúc!

Cung chúc Tân Niên

Vạn sự như ý, đại cát đại lợi!

Vững Xây Tổ ấm

Đàn ông xây nhà - Đàn bà xây tổ ấm!

Vững Xây Cuộc Sống

Đất lành chim đậu - An cư lạc nghiệp!

Showing posts with label cạnh tranh thương hiệu. Show all posts
Showing posts with label cạnh tranh thương hiệu. Show all posts

Oct 25, 2011

Đừng bán linh hồn, hãy tiếp thị nó

[Marketing3k.vn] Nếu dựa vào sự giàu có của người khác mà kinh doanh thì không có doanh nghiệp nào có thể tự duy trì được. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của tác giả Dan Pallotta.

Trong một lá thư mở gửi các sinh viên tốt nghiệp Đại học ở Forrbes, người đứng đầu Tổ chức Kauffman Foundation Carl Schramm đã khuyến khích người trẻ theo đuổi con đường kinh doanh. Ông lập luận rằng: "Mặc dù là những bộ phận cần thiết trong xã hội, nhưng các chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận không thể tự duy trì sự tồn tại.

Để thực hiện tốt công việc của mình, những cơ quan này đều phải dựa vào tiền bạc có được từ kinh doanh." Nếu dựa vào sự giàu có của người khác mà kinh doanh thì không có doanh nghiệp nào có thể tự duy trì được. Nền công nghiệp âm nhạc là một ví dụ của kinh doanh không tự duy trì, bởi nó phụ thuộc vào tiền bạc của người tiêu dùng, những người sẽ quyết định có bỏ tiền ra mua sản phẩm âm nhạc hay không.

Các Tổ chức nhân đạo đều cung cấp một loại dịch vụ: đó là cứu chữa, chăm sóc cho người nghèo. Các nhà tài trợ lại đứng ra trả tiền cho những tổ chức này duy trì hoạt động. Có gì khác biệt giữa loại hình này với hình thức các Spa thường bán phiếu sử dụng dịch vụ cho khách hàng dùng làm quà tặng cho người khác? Về cơ bản, chúng đều cùng một kiểu hợp đồng. Tuy nhiên, hoạt động nhân đạo tất nhiên có giá trị hơn. Bởi khi bạn giúp đỡ một người nào đó, bạn đã tạo cơ hội cho họ có khả năng tạo ra của cải.

Làm từ thiện ít nhất cũng "tự duy trì" được kiểu như ngành công nghiệp âm nhạc, ngành công nghiệp mỹ phẩm hay bất kỳ ngành nào mà doanh thu phụ thuộc vào thu nhập của khách hàng. Những ngành công nghiệp này có sức thu hút tự nhiên và khiến con người nảy sinh ham muốn. Nếu bạn có thể khiến người ta cảm thấy không thể thiếu một cái gì đó, và chính bạn cung cấp thứ này thì bạn đã sở hữu một ngành công nghiệp tự duy trì.

Chúng ta đã và đang hoạt động theo một lý thuyết sai lầm về làm từ thiện. Khái niệm sai lầm rằng từ thiện không phải là một mô hình kinh doanh tự duy trì được làm nảy sinh nhiều tác động phụ. Chính khái niệm này đã ngăn chúng ta suy nghĩ đến việc xây dựng một thị trường đủ lớn cho các tổ chức từ thiện để chúng có khả năng tiếp cận những vấn đề xã hội quan trọng.

Hầu như tất cả mọi người đều muốn giúp đỡ người khác. Họ sẽ cảm thấy cuộc sống không đủ đầy nếu không có mối liên kết này với nhân loại. Chúng ta có thể đánh vào mong muốn của con người bằng cách tiếp thị lòng từ bi, giống như cách chúng ta cẩn trọng và chặt chẽ trong tiếp thị những chiếc xế hộp sang trọng.

Khi làm như vậy, chúng ta có thể kích thích người ta giúp đỡ người khác nhiều hơn nữa. Nếu bạn phải làm từ thiện vì bạn được yêu cầu làm thế, liệu bạn có muốn bỏ ra nhiều tiền hoặc muốn làm từ thiện thường xuyên không? Yêu cầu từ thiện chính là đang tiếp thị. Giới hạn của hình thức này vẫn chưa được thử nghiệm đánh giá.

John Kenneth Galbraith viết: "Nguồn quan trọng và rõ ràng nhất trong nhu cầu khách hàng là quảng cáo và nghệ thuật bán hàng của những nhà cung cấp sản phẩm. Đầu tiên, bạn làm ra sản phẩm, sau đó, bạn cần tạo ra thị trường." David Oglvy đã áp dụng điều này vào thực tế một cách thô sơ nhất hồi năm 1987: "cố gắng tung ra một thương hiệu chất tẩy rửa mới với một chiến dịch với kinh phí ít hơn 10000000 đô la Mỹ."

Trong lĩnh vực hoạt động vì lợi nhuận, thật là "bất lương" nếu khởi động một sản phẩm mới mà không có ngân sách quảng cáo phù hợp để xây dựng thị trường cho sản phẩm đó. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nhân đạo, nghĩa vụ của bạn là phải xây dựng một thị trường cho nó mà không được lãng phí một xu vào việc này.

Vào năm 2009, Một trong những tổ chức từ thiện phát triển toàn cầu lớn nhất "Save the Children" đã dành 3.31 triệu đô la Mỹ cho quảng cáo. Trong khi đó, ngân sách cho quảng cáo của công ty Walt Disney (một công ty giải trí) là 2 tỉ đô la Mỹ - gấp 600 lần ngân sách quảng cáo của "Save the Children". Chúng ta có thể cứu giúp được thêm rất nhiều trẻ em nếu chúng ta chú trọng hơn đến việc xây dựng thị trường cho hoạt động từ thiện.

Nếu không chú trọng đủ đến quảng cáo, chúng ta không chỉ không cứu được trẻ em, mà còn đặt các tổ chức nhân đạo và những ý định tốt đẹp của chúng dưới sự tài trợ của lòng thương xót của các tổ chức lớn, hoạt động cho những chương trình không phù hợp với nhiệm vụ của chúng. Chẳng khác nào, những tổ chức nhân đạo này phải tự bán linh hồn của chính họ.

Cựu TT Hoa Kỳ Franklin Roosevelt từng nói, "Nếu tôi bắt đầu lại cuộc đời... Tôi sẽ tham gia vào hoạt động kinh doanh quảng cáo...Quảng cáo nuôi dưỡng sức mạnh tiêu thụ. Nó đặt ra cho người ta mục tiêu phải có một ngôi nhà tiện nghi hơn, quần áo đẹp hơn, thức ăn ngon hơn... cho chính bản thân họ và gia đình họ." Bởi vậy, quảng cáo chắc chắn cũng có thể khiến con người có mục tiêu xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Lĩnh vực Nhân đạo cũng cần phải quan tâm đến tiếp thị nhiều như lĩnh vực hoạt động vì lợi nhuận. Cách duy nhất mà các tổ chức nhân đạo có thể tự lực được và có thể đạt được đến quy mô cần thiết có thể giải quyết hàng loạt các vấn đề xã hội ngày nay - đó là kích thích nhu cầu của người tiêu dùng với những hàng hóa và dịch vụ từ thiện. Xây dựng thị trường từ thiện là điều cần thiết, nếu các tổ chức từ thiện không muốn phải bán linh hồn chính mình như hiện nay.
Theo VeF - KAZE (THEO HBR)

Aug 26, 2011

Xây dựng thương hiệu trong ngành giáo dục

[Marketing3k.vn] Văn hóa Á Đông luôn đặt nặng vấn đề học vấn, vì vậy thầy cô giáo rất được tôn trọng và là hình ảnh mô phạm, mẫu mực cho sinh viên học sinh. Nếu nhìn ở góc độ kinh doanh, với văn hóa hiếu học như thế, nhu cầu về giáo dục ở thị trường châu Á rất cao. Và thực sự có rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học, mầm non ở các nước Đông Nam Á. Việt Nam cũng không ngoại lệ. 

Thế nhưng, tại sao phần lớn các trường danh tiếng lại xuất phát từ Mỹ, Nhật, Anh, Canada, Úc và châu Âu? Có thực sự họ nổi tiếng dựa vào chất lượng, hay họ phải dùng đến công cụ marketing để đánh bóng thương hiệu giáo dục?
Nếu nói về kiến thức marketing, các trường ở Việt Nam không hề thua kém, nhưng hình ảnh “mô phạm” là một trong những rào cản khiến những người làm giáo dục khó đẩy mạnh tiếp thị thương hiệu giáo dục. Đồng thời đây là một ngành cần phải được hỗ trợ marketing từ phía chính phủ.

Marketing hỗn hợp

Đã có rất nhiều tổ chức, công ty, cá nhân bỏ ra hàng triệu USD để xây dựng một trường đào tạo hoặc liên kết đưa các trường nước ngoài về Việt Nam. Khá nhiều trường ở Việt Nam đã thành công về mặt doanh số, nhưng chưa thể kết luận họ làm kinh doanh tốt. Vì nếu nói về thương hiệu giáo dục, có bao nhiêu tên trường Việt Nam nằm trong danh sách những trường tốt của “khách hàng”?

Để xây dựng thương hiệu thành công, các tổ chức giáo dục cũng cần áp dụng mô hình marketing hỗn hợp, hay còn gọi là mô hình 4P.

Vậy mô hình 4P là như thế nào? Thứ nhất là Products (Sản phẩm). Nhiều nhà đầu tư giáo dục cho rằng, chỉ cần chương trình (sản phẩm) tốt là đủ. Vậy tại sao có nhiều chương trình tốt từ nước ngoài mang về Việt Nam vẫn thất bại? Một sản phẩm giáo dục, ngoài giáo trình tốt là cốt lõi, giảng viên cũng là một sản phẩm. Các dịch vụ hỗ trợ học sinh, sinh viên cũng là một sản phẩm, nhưng sản phẩm quan trọng nhất là người học.

Thứ 2 là Promotion (Quảng cáo). Có rất nhiều chương trình nước ngoài, hoặc trường quốc tế quảng cáo rầm rộ, giảm 50% học phí, phát tờ rơi đầy một góc đường vẫn không thu hút được học sinh, sinh viên. Hãy dùng yếu tố con người là công cụ quảng cáo hữu hiệu cho kinh doanh giáo dục. Như đã nói ở trên, người học là một sản phẩm quan trọng. Hãy giới thiệu sản phẩm quan trọng này với khách hàng, với thị trường qua nhiều kênh. Ví dụ, qua chương trình giao lưu, thi thố tài năng; chương trình vừa học vừa làm đưa sinh viên đi khắp nơi làm việc trong mọi lĩnh vực. Và hãy dùng một công cụ mà người Việt đã biết sử dụng từ lâu đời. Đó là truyền miệng. Hãy đưa những giảng viên giỏi đi nói chuyện ở các tổ chức, hiệp hội…

Thứ 3 là Physical Evidence (Sự hữu hình). Giáo dục là một sản phẩm vô hình. Vậy làm sao có thể hữu hình hóa để khách hàng hiểu, chấp nhận và quyết định mua? Tùy vào đối tượng khách hàng mà trả lời câu hỏi này. Nếu đó là các bậc cha mẹ tìm kiếm một trường mầm non cho con thì họ quan tâm đến những gì? Hãy thiết kế chương trình phù hợp với mối quan tâm đó. .ếu đối tượng là người đi làm muốn học thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), thì cũng nên tìm hiểu họ quan tâm đến những gì?

Cuối cùng là People (Con người). Phần lớn các hiệu trưởng, trưởng khoa và giáo sư đại học ở các nước phát triển đều có ý thức thương mại hóa các nghiên cứu và phát minh của mình. Họ quan hệ cực kỳ tốt với rất nhiều công ty trong lĩnh vực họ nghiên cứu. Vì đây là cầu nối để đưa những sản phẩm quan trọng là sinh viên đến với thị trường.

Doanh thu và mô hình kinh doanh trong giáo dục

Lợi thế của mô hình kinh doanh giáo dục là vừa có thể là tổ chức phi lợi nhuận vừa có thể là tổ chức doanh lợi. Ngoài làm giáo dục có thể kêu gọi tài trợ, hỗ trợ từ các doanh nghiệp nhưng vẫn có thể thu phí như bất kỳ mô hình kinh doanh nào. Đại học Harvard xin tiền tài trợ hằng năm cả trăm triệu USD, nhưng học phí của Trường không rẻ chút nào.

Nếu so sánh với mô hình kinh doanh khác, kinh doanh giáo dục cũng có thể được bán sỉ cho các doanh nghiệp, hoặc có thể bán lẻ cho cá nhân. Ví dụ, nếu kinh doanh trường dạy tiếng Anh, bạn có thể bán những gói sản phẩm cho doanh nghiệp, hoặc có thể mở lớp dạy mọi đối tượng. Nhưng kinh doanh ngoại ngữ được xem là kinh doanh đại trà. Nếu kinh doanh giáo dục ở bậc sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) bạn có thể bán lẻ cho cá nhân đang đi làm, sinh viên muốn học cao hơn. Mô hình này được xem là sản phẩm cao cấp.

Mặc dù nhìn giáo dục dưới con mắt kinh doanh, nhưng đừng quên văn hóa của quốc gia. Dung hòa được 2 yếu tố này, việc kinh doanh giáo dục sẽ trường tồn.
Theo Nhịp Cầu Đầu Tư

Aug 25, 2011

Beeline có nguy cơ ngợp trong 'chiếc áo' MU

Lãnh đạo Beeline khu vực Đông Dương
trong lễ ký hợp tác với MU. Ảnh: Beeline.
[Marketing3k.vn] Bỏ nhiều triệu đôla để sử dụng độc quyền hình ảnh của đội bóng lừng danh Manchester United tại VN trong khi thị phần trong mảng di động quá nhỏ bé, Beeline đang đối mặt với nguy cơ bơi trong chiếc áo quá rộng.

Nếu như Beeline từng gây tiếng vang với màn ra mắt mạng di động 0199 khá ấn tượng vào tháng 7/2009 thì hiện tại thị trường viễn thông Việt thêm một lần nổi sóng với thương vụ hợp tác với MU trị giá hàng triệu đôla.

Các tín đồ của môn thể thao vua hy vọng về một ngày họ được gặp những chân sút tài ba của MU ngay tại Việt Nam chứ không chỉ qua màn ảnh nhỏ tại nước Anh xa xôi. Thị trường viễn thông cũng được thổi luồng gió mới sau một thời gian dài các hãng cung cấp dịch vụ chỉ biết sát phạt nhau bằng chính sách khuyến mãi.
Thế nhưng, đằng sau thương vụ hợp tác triệu đôla này lại có nhiều ý kiến trái chiều. Giới am hiểu về vấn đề xây dựng thương hiệu cho đây là cuộc chơi tốn kém mà chưa chắc mang lại hiệu quả, nhất là khi Beeline chưa mấy thành công trong việc cung cấp dịch vụ di động. Thời gian qua, cạnh tranh đã kéo giá cước di động của Việt Nam xuống mức rất thấp. Doanh thu trung bình trên mỗi thuê bao giảm mạnh và chỉ còn khoảng 150.000 đồng một tháng. Bản thân Beeline quy mô mạng lưới vẫn gói gọn trong phạm vi 18 tỉnh, thành phố, với vài trăm nghìn thuê bao trong khi các mạng khác có hàng chục triệu.

Theo thỏa thuận, phía Beeline sẽ trả cho MU mỗi năm khoảng 3 triệu đôla Mỹ. Đổi lại, hãng được độc quyền sử dụng hình ảnh và tên thương hiệu Manchester United cho các dịch vụ viễn thông di động và nội dung số trên lãnh thổ 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia - nơi mạng Beeline với sắc màu vàng đen hiện diện.

Lãnh đạo cấp cao của Beeline chia sẻ với VnExpress rằng những thương vụ hợp tác kiểu này chưa có tiền lệ trên thị trường viễn thông Việt. Thế nhưng, thương hiệu MU với cộng đồng các fan hâm mộ lên tới con số cả trăm triệu sẽ giúp Beeline làm cú "lội ngược dòng" vào thị trường Việt, sau gần một năm vắng bóng. Beeline sẽ tận dụng tối đa hình ảnh để kéo người hâm mộ môn túc cầu đến với dịch vụ di động 0199 và 099 của mình.

Tuy nhiên, điều mà giới hâm mộ bóng đá mong đợi nhất về khả năng những cầu thủ nổi tiếng của MU sẽ tham gia các cuộc giao lưu tại Việt Nam thông qua Beeline lại chưa được đề cập một cách rõ ràng.

Bản thân phía MU cũng không đưa ra một sự hứa hẹn nào chắc chắn về việc các cầu thủ của họ sẽ hiện diện tại Việt Nam. Giám đốc Thương mại của Manchester United, ông Richard Arnold chỉ nói rằng: “Chúng tôi thật sự hào hứng trước sự hợp tác này. Đối với chúng tôi, Beeline là một đối tác thích hợp tại Việt Nam, Lào và Campuchia - đây là một công ty nhiều tham vọng và đã tạo được ảnh hưởng lớn tại khu vực này chỉ trong một thời gian ngắn”.

Giám đốc Công ty cổ phần Truyền thông Tân Khánh - Nguyễn Sơn Hồng cho rằng có nhiều lý do khiến MU kiếm tìm đối tác thương mại tại nhiều nước thuộc khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam. MU tuy là câu lạc bộ gặt được nhiều thành công trong các giải bóng nhưng lại đang gặp khó khăn về mặt tài chính. Do vậy, sự "bén duyên" của Beeline và MU có thể hiểu đơn giản là đem lại lợi ích giữa 2 bên. MU có tiền, còn Beeline được sử dụng thương hiệu nổi tiếng của câu lạc bộ này để quảng bá hình ảnh.

Tuy nhiên, việc mạng di động nhỏ chỉ có vài trăm nghìn khách hàng như Beeline lại bỏ số tiền quá lớn để khai thác hình ảnh của MU lại là bài toán lớn đặt ra cho lãnh đạo của hãng.

"Tôi cho rằng, Beeline đang cố mặc một cái áo quá rộng so với cơ thể của mình", ông Hồng ví von.

Từng chứng khiến các cuộc "hợp - tan" của nhiều thương hiệu nổi tiếng, ông Hồng nhận định để khai thác hiệu quả hình ảnh của MU, Beeline sẽ phải bỏ thêm rất nhiều tiên nữa để thực hiện kế hoạch truyền thông mang tính dài hơi hơn.

"Người ta có thể hâm mộ MU nhưng chưa chắc đã vì sự kiện này mà chuyển sang sử dụng dịch vụ di động của Beeline. Trong kinh doanh viễn thông vùng phủ sóng, chất lượng, giá cả... vẫn là những yếu tố cơ bản thu hút khách hàng", ông Hồng nhấn mạnh.

Một chuyên gia marketing từng đừng đằng sau một số vụ nhượng quyền thương hiệu tại Việt Nam cũng cho rằng nếu hợp đồng ký với MU chỉ dừng ở con số 3 triệu đôla thì những gì mà Beeline được sử dụng hình ảnh logo trên biển bảng, thẻ cào, sim hay các dịch vụ nội dung trên di động. Còn việc kinh doanh thông qua các chuyến giao lưu của cầu thủ với các fan tại Việt Nam hay Lào, Campuchia lại là câu chuyện khác, đòi hỏi đi kèm nhiều triệu đôla Mỹ nữa.

"Việc hợp tác mới là bước đầu nên chưa thể nói rằng đó là thành công hay thất bại. Tôi cho rằng Beeline có tham vọng và họ đang cố bứt phá hình ảnh mình tại thị trường viễn thông Việt đang bị xem là chỉ còn cửa ngách", vị chuyên gia này nói.

Ông cho hay năm 2008 một hãng sản xuất khá lớn tại Việt Nam từng hợp tác với Câu lạc bộ Arsenal quảng bá cho thương hiệu cafe. Thỏa thuận kéo dài 2 năm với hợp đồng sử dụng hình ảnh của đội bóng này quảng cáo cho thương hiệu cafe với tổng chi phí lên tới 2 triệu đôla. Tuy nhiên, cũng 2 năm sau, thương hiệu cafe này cũng gần như không còn tồn tại trên thị trường.

Tuy vậy, dưới cái nhìn khác, chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai - Đoàn Nguyên Đức cho rằng Beeline có tham vọng và nếu họ có chiến lược rõ ràng thì sẽ mang lại giá trị về mặt thương hiệu. "Thương hiệu là gì - là cái tên nhiều người biết đến anh, đó là thành công. Việc hợp tác với các thương hiệu lớn không bao giờ là thiệt cả", ông Đức nói.

Hoàng Anh Gia Lai cũng đang là đối tác chiến lược với Câu lạc bộ Arsenal trong việc xây dựng học viện bóng đá với số vốn đầu tư ban đầu vào khoảng 4 triệu đôla Mỹ. Trong đó, phía Hoàng Anh Gia Lai đầu tư cơ sở vật chất còn phía Arsenal cung cấp về mặt kỹ thuật, thương mại, tiếp thị và đào tạo cầu thủ... Học viện này được xây dựng từ năm 2007 đã thu hút được 36 học viên và dự kiến sẽ đem lại lợi nhuận cao sau 7 năm.

Theo ông, thương hiệu chính là giá trị doanh nghiệp. Khi thương hiệu lớn, nhiều người biết đến thì nhiều quỹ đầu tư sẽ tìm đến. "Tôi chưa bao giờ ngồi tính toán xem chúng tôi đã được những gì từ thương vụ hợp tác với Arsenal chỉ biết rằng khi ra nước ngoài tôi thấy hình ảnh của mình hiện diện. Khi xem trận đấu bóng thấy tấm biển chạy chữ Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai chạy trên sân Emirates của Anh. Giá trị lúc đó không thể tính được bằng tiền như thể mình đang uống cốc bia giá 2 triệu đôla", ông Đức nói.

Bằng kinh nghiệm trong việc xây dựng hình ảnh từ bóng đá, ông Đức cho rằng hợp tác với những câu lạc bộ bóng đá lớn sẽ "được nhiều hơn mất". "Đây là giá trị lâu dài chứ không thể tính bằng ngày một ngày hai", ông Đức nhấn mạnh.
Hồng Anh - Theo VnExpress
Các bài khác:

Aug 14, 2011

Xây dựng thương hiệu theo cách của Apple

[Marketing4u.vn] Apple đã rất hào phóng trong việc thúc đẩy thương hiệu của mình, nhưng nghiên cứu lại cho thấy giá trị thương hiệu tăng vọt là nhờ vào ảnh hưởng của 2 sản phẩm: iPad và iPhone. Bất cứ nhà tiếp thị nào cũng sẽ tìm thấy một bài học ở Apple.

Bạn muốn xây dựng một thương hiệu quyền lực? Hãy tự hỏi mình liệu sản phẩm/dịch vụ của bạn có thể trở thành sứ giả cho thương hiệu hay không.

Cách đây ít ngày, công ty nghiên cứu thị trường Millward Brown đã công bố danh sách những thương hiệu giá trị nhất thế giới. Lần đầu tiên Apple đứng đầu danh sách này. Giá trị thương hiệu của Apple là 153 tỷ USD, tăng 84% mỗi năm. Đúng, Apple đã rất hào phóng trong việc thúc đẩy thương hiệu của mình, nhưng nghiên cứu lại cho thấy giá trị thương hiệu tăng vọt là nhờ vào ảnh hưởng của 2 sản phẩm: iPad và iPhone.

Bất cứ nhà tiếp thị nào cũng sẽ tìm thấy một bài học ở Apple. Bạn muốn xây dựng một thương hiệu quyền lực? Hãy tự hỏi mình liệu sản phẩm/dịch vụ của bạn có thể trở thành sứ giả cho thương hiệu hay không.

Giá mà các hãng ô tô Detroit (bộ ba hãng ô tô GM, Ford và Chrysler còn được gọi là Big Three hay Detroit Three) lưu tâm đến điều này từ nhiều năm trước. Họ đã dành tiền cho quảng cáo nhiều hơn bất cứ lĩnh vực nào khác trong nền kinh tế nước Mỹ. (GM từng chi mạnh tay hơn cả tập đoàn hàng tiêu dùng P&G.) Và họ đã phải trải qua giai đoạn khó khăn gần chết mới nhận ra một sự thật quan trọng: bạn có thể quảng cáo và xúc tiến tất cả những gì bạn muốn, nhưng đến cuối cùng "quản trị thương hiệu" vẫn là về bản thân sản phẩm. Một thước phim quảng cáo 30 giây sẽ kéo dài... chỉ 30 giây! Còn khi khách hàng đến mua ô tô, thì trải nghiệm của họ lúc đó sẽ kéo dài hàng năm liền. Một chiếc ô tô không chạy tốt chắc chắn sẽ bào mòn thương hiệu - và tì vết đó sẽ vẫn còn mãi kể cả thời gian có trôi qua.

Có 4 cách để biến thứ mà bạn bán thành sứ giả cho thương hiệu của bạn. Tuy không phải công ty nào cũng có thể thành công, nhưng bạn cũng nên cân nhắc để biến sản phẩm của mình thành....

.... Tiện ích có thương hiệu: Đến tận lúc này, Google vẫn chưa phải chi ra 1 xu cho quảng cáo. Được định giá 111 tỷ USD, thương hiệu của Google được nhận diện nhờ dịch vụ của hãng có mặt khắp nơi, ban đầu là công cụ tìm kiếm rồi mở rộng sang hệ điều hành Android, các dịch vụ Google Earth, Google Maps, Google Trends và một danh sách khổng lồ những đặc tính và ứng dụng liên quan. Google là tiện ích thông tin. Thay vì mang đến nước, điện hay khí đốt, Google mang đến cho khách hàng câu trả lời. Tương tự như vậy, trong khi đã thiết lập được tiêu chuẩn vàng cho thương mại trực tuyến, Amazon vẫn rất hà tiện trong việc đẩy mạnh thương hiệu. Thay vì thế, hãng lại phân bổ ngân sách tiếp thị để xây dựng sản phẩm tốt hơn: giao hàng tận nơi, đặt hàng chỉ bằng một cú click chuột, thường đưa ra những mức giá thấp nhất, và đưa ra những gợi ý mua hàng thông minh. Amazon đã tạo ra tiện ích mua sắm đỉnh cao. Đúng là biểu tượng nhoẻn miệng cười trên logo Amazon rất hay, nhưng thương hiệu Amazon được xây dựng chỉ hoàn toàn dựa trên tính hữu dụng của trang web này.

....Người kết nối xã hội: Thương hiệu Facebook đã tiến lên vị trí thứ 35 trên bảng xếp hạng mới nhất với giá trị 19 tỷ USD. Facebook lại là một kiểu tiện ích loại khác.

Lợi ích với người dùng, dĩ nhiên, là kết nối với những người dùng khác, là làm giàu trải nghiệm với hàng tá tính năng và hàng trăm nghìn ứng dụng của các bên thứ 3, nhiều cách thông tin, chia sẻ, và giờ đây còn là kết hợp với Skype. Những thành quả khổng lồ của nền tảng của Facebook đảm bảo rằng hãng chẳng cần phải chi tiền cho phương tiện truyền thông làm gì. Nói về Skype, một thương hiệu giá trị khổng lồ khác thành công nhờ kết nối mọi người. Năm ngoái, Skype tuyên bố có 663 triệu người đăng kí sử dụng, cũng không kém cạnh gì con số 750 triệu của Facebook. Bài học tương tự có thể thấy từ Twitter, LinkedIn và Foursquare. Mỗi một công ty trong số này đều xây dưng tài sản thương hiệu bằng cách chuyển tải giá trị bằng cam kết kết nối cộng đồng, chứ không phải chỉ là lời tuyên bố suông của chủ thương hiệu. .

...Hệ thống tính năng: BMW từ rất lâu đã kết nối câu thần chú thương hiệu nổi tiếng: "chiếc xe tuyệt đỉnh" với sản phẩm của mình trên thực tế. Quả là duy trì nhận thức về thương hiệu cũng rất quan trọng nếu bạn muốn bán được xe trên quy mô lớn. Nhưng điều khiến khách hàng phải quay lại với BMW chính là những chiếc xe với đúng những giá trị đã được hãng tuyên bố. Một hãng ô tô khác cũng đã học được điều này: Sau một loạt những vấn đề về chất lượng, VW đã thay đổi cách thức của mình.

CEO Martin Winkerhorn của hãng, người bị ám ảnh về chất lượng, đã nói với tạp chí Business Week: "Sản phẩm là danh thiếp kinh doanh của chúng tôi đối với khách hàng. Chúng phải hoàn hảo." Trong lĩnh vực nấu nướng, nhiều bà nội trợ cũng có được trải nghiệm hài lòng tương tự nhờ sử dụng sản phẩm của OXO Good Grips. Bạn không cần một chiến dịch quảng cáo để biết rằng những sản phẩm bếp núc lạ mắt này - tất cả các sản phẩm của hãng đều có tay cầm bọc cao su đen hình củ - hoạt động rất tốt và dễ sử dụng. Bạn chỉ cần thử dùng một lần là sẽ biết điều đó. Một chiếc dao gọt vỏ của Good Grips rất dễ cầm. Có thể bạn sẽ nói điều tương tự về Big Green Egg (bếp nấu đa năng ngoài trời)

.... Sản phẩm gây nghiện: Dù mỗi một sản phẩm của Apple thực tế cũng "chỉ" là một chiếc máy tính trong vỏ bọc bé nhỏ, thì chúng cũng được đáp lại bởi những cảm xúc dễ được coi là yêu mến hay thậm chí là nghiện. Trong ngành ô tô, MINI của BMW và Beetle của VW cũng gây ra cảm xúc tương tự cho người sử dụng. Ngay cả trong những ngành công nghiệp cứng nhắc, cảm xúc cũng có thể giúp xây dựng thương hiệu. Kiva Systems, hãng sản xuất dụng cụ vận chuyển hàng hóa trong các cửa hàng bán lẻ, nhận ra rằng ngay cả những nhân vật kì cựu và khó tính trong lĩnh vực hậu cần cũng phải lòng những con robot quyến rũ của hãng, và mua sản phẩm này bởi khả năng nâng cao hiệu suất vận chuyển của chúng.

Vậy, liệu một sản phẩm "cực đỉnh" có cần phải tiếp thị không? Dĩ nhiên là có, nhưng tiếp thị chỉ là điều kiện cần, chứ chưa phải điều kiện đủ. Điều kiện đủ, trên thực tế, phải là những sản phẩm có thể trở thành phát ngôn viên cho thương hiệu của chúng.
Thu Thủy - Theo TTVN/Havard Business Review

May 31, 2011

Xây dựng niềm tin – Nhiệm vụ của thương hiệu

[Masgroup.vn] “Ngày nay, thương hiệu là một phần không thể thiếu trong thị trường”, phát biểu này trong bài báo của Vincent Grimaldi’s 2003 gây cho tôi nhiều suy nghĩ, cả đồng ý lẫn không đồng ý. Tôi cho rằng, phát biểu này sẽ là điểm gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử. Sự phát triển lâu dài của toàn cầu hoá là một minh chứng cho sự tồn tại mối quan hệ giữa khách hàng với một diện mạo thương hiệu đã được qua quá trình trải nghiệm và kiểm chứng tâm lý. 
Các thương hiệu đang trong quá trình cạnh tranh gay gắt với nhau để giành lấy sự chú ý của người tiêu dùng, đặc biệt là sự tin tưởng của họ. Còn tôi thì cho rằng chính thương hiệu và kiến trúc thương hiệu nên từ bỏ cuộc cạnh tranh này. Lòng tin của khách hàng không phải là phần thưởng cho kẻ chiến thắng, mà đó là kết quả của một quá trình xây dựng lời hứa thương hiệu với các bên liên quan, đồng thời là sự thích ứng của nhãn hiệu đối với thị trường...Chi tiết
Các bài khác: