Tư vấn marketing

Sản phẩm và dịch vụ của bạn mang lại giá trị gì?

Phong thủy khai vận

Khai thông khí vận, sức khỏe - tài lộc - sự nghiệp

Quý Hải | Nhà tư vấn

Thực tế - tinh tế khi ứng dụng trong cuộc sống

Khai vận năm Bính Thân 2016

Sức khỏe - Sự nghiệp - Tài lộc để đảm bảo một cuộc sống Hạnh Phúc!

Cung chúc Tân Niên

Vạn sự như ý, đại cát đại lợi!

Vững Xây Tổ ấm

Đàn ông xây nhà - Đàn bà xây tổ ấm!

Vững Xây Cuộc Sống

Đất lành chim đậu - An cư lạc nghiệp!

Oct 26, 2011

Đừng đánh đố khách hàng!

[Marketing4u.vn] Hãy đưa ra những thông điệp thống nhất nếu muốn có chỗ đứng trong tâm trí người tiêu dùng. Làm sao để chiếm được tâm trí khách hàng trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt là bài toán bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải đặt ra và tự giải quyết.

Có nhiều cách giải quyết cho bài toán này. Tuy nhiên, cách định vị sản phẩm, định vị đối tượng khách hàng và nhất quán một thông điệp là những yếu tố không thể thiếu trong một chiến dịch chinh phục tâm trí khách hàng. Thông điệp nhất quán là công việc của những marketer và những người làm quảng cáo.

Hãy nhớ câu thần chú K.I.S.S

Không nên đánh đố khách hàng của mình bằng nhiều thông điệp khác nhau. Đừng để khách hàng phải rối tung lên hoặc phải mất thời gian nhận biết sản phẩm của bạn là gì, chính xác hơn tôi là ai khi dùng sản phẩm của bạn.Hãy ghi nhớ câu “thần chú”: K.I.S.S (Keep It Short and Simple) hoặc Stupid.

Dù sản phẩm của anh tốt thế nào nhưng nếu lãng quên yếu tố nhất quán trong việc truyền đi một thông điệp của mình, trước và sau gì anh cũng sẽ thất bại. Một ví dụ điển hình cho sự thất bại này là bia Miller Genuine Draft (MGD). Trước tiên, hãy thử làm một phép so sánh ba loại bia nhẹ nổi tiếng thế giới: Bud Light, Corona và MGD. Đừng vội so sánh về chất lượng của ba loại bia này, chỉ so sánh cách truyền đi thông điệp của mình như thế nào. 

Bia Bud Light dẫn đầu suốt 3 thập kỷ qua ở thị trường Mỹ với hình ảnh và những mẩu chuyện hài hước của các nhóm thanh niên trẻ.Ai cũng bật cười với mẫu quảng cáo Good Dog rất khôi hài và thông minh của Bud Light. Trong mẫu TVC ngắn 30 giây là câu chuyện về cách huấn luyện chó của hai chàng trai trẻ. Chàng trai đầu tiên ra lệnh lấy bia, chú chó của anh ta lập tức chạy ngay đến thùng bia ướp lạnh sẵn, đem về chai Bud Light cho chủ.Đầy tự hào, anh ta quay sang nhìn người bạn. Anh ta kẻ cả, hỏi liệu chú chó của người bạn có thể làm được như thế hoặc điều gì hay hơn. Người bạn chỉ cần nói “Bud Light”, lập tức chú chó con của mình chạy đến cắn ngay vào “chỗ hiểm” của anh chàng đầu tiên, khiến chai bia lọt vào tay chủ của nó. Thông điệp mà Bud Light muốn nói rất đơn giản: Bud Light, bia dành cho những người trẻ trung, thông minh. Có ai không muốn mình trẻ trung và thông minh chứ? Thông điệp “láu cá” đó đã ảnh hưởng rất lớn đến yếu tố quyết Bud Light, giúp sản phẩm này trở thành bia số 1 ở Mỹ.

Trong khi đó, hầu hết trong các thông điệp quảng cáo, Corona luôn trung thành với bãi biển, những gì mát mẻ, trẻ trung và rất “cool”.Như trong mẫu quảng cáo Corona beer freezing trick, chỉ là hình ảnh của nước trong chai bia Corona từ từ đông lại thành đá mát lạnh và hấp dẫn.Vô hình trung, chính vì sự mát mẻ, thanh tao đó mà phái nữ lại rất thích thưởng thức loại bia này ở các quán bar. Nếu vào một quán bar hoặc sàn nhảy ở Việt Nam, Corona vẫn là loại bia được nhiều bạn trẻ muốn thể hiện mình rất “cool”.Cũng dễ hiểu khi Corona luôn dẫn đầu các loại bia nhập khẩu, đặc biệt ở các nước vùng nhiệt đới.

Còn Miller thì sao?Vào những năm 70, thế kỷ XX, Miller đã từng rất thành công với thương hiệu Miller High Life và Miller Lite của mình. Vì muốn tiếp tục đẩy mạnh thương hiệu, Miller tiếp tục cho ra đời hàng loạt loại bia mới: Miller High Life Light, Miller Lite Ice, Miller Genuine Draft, Miller Genuine Draft Light, Miller Clear, Miller Regular. Đây chính là một sai lầm của Miller.

Hãy tưởng tượng xem, nếu vào quán bar và gọi một chai Heneken, anh bồi sẽ đưa đúng loại bia mà bạn ưa thích.Còn khi bạn gọi một chai Miller, chắc chắn anh bồi sẽ hỏi lại bạn muốn dùng Miller nào với cả chục cái tên. Tất nhiên, chính bản thân bạn cũng phân vân, không biết chọn loại nào và có thể chọn một loại bia khác. Dường như Miller đánh đố khách hàng vì sự đa dạng sản phẩm của mình.

Thay vì một loạt tên tương tự nhau, Miller có thể tự đặt và phát triển một nhãn hiệu mới.Không chỉ thiếu nhất quán về sản phẩm, ngay cả thông điệp quảng cáo của họ cũng vậy. Điển hình là chiến dịch quảng cáo cho Miller Genuine Draft, loại bia chủ lực của Miller. Từ năm 2001 đến nay, nhãn hiệu bia nổi tiếng này đã trải qua 4 công ty quảng cáo với ít nhất 8 chủ đề thông điệp khác nhau như Never miss a genuine opportunity, Pure MGD, Keep what’s good, Good call,Vairous, Beer, Grown up, Experience is golden.

Trong suốt thời gian này, Miller Genuine Draft tập trung truyền tải những thông điệp vừa mang tính hài hước nhằm kích thích chất nam tính của tuổi trẻ, đồng thời muốn làm nổi bật sự trưởng thành của người đứng tuổi. Cả hai yếu tố trên đều không có được sự đồng nhất và cả sự tinh tế vốn có của nó. Khi phải đứng giữa 2 yếu tố, người ta luôn phân tâm. Cùng với những chủ đề thông điệp liên tục thay đổi, MGD đã khiến người tiêu dùng hoang mang, không biết rõ cái nào là đúng, cái nào mới phù hợp với mình. Và câu hỏi: “Vì sao tôi phải uống MGD?” đã khiến người tiêu dùng phân vân để trả lời. Nếu so sánh về mức độ trẻ trung, Miller có thể không bằng Corona, Bud Light. Còn nếu đây là loại bia dành cho người trưởng thành hoặc những “businessman”, tự thân MGD đã không phù hợp.

Hệ quả của sự đánh đố Chuyên gia marketing nổi tiếng thế giới Jack Trout đã nói: “Trong tâm trí của người tiêu dùng chỉ có một ý tưởng về một thương hiệu. Càng có nhiều biến thể, càng khiến người ta bối rối, mất tập trung hơn”. Heineken,dù có thay đổi nhiều mẫu quảng cáo nhưng họ luôn trung thành với thông điệp: Chỉ có thể là Heineken. 

Đó là lý do tại sao doanh thu của MGD giảm xuống 41% từ năm 2001, so với đỉnh cao của đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Trước tình hình này, sắp tới Miller quyết định thay đổi tiếp. Có thể thông điệp mới của họ là “genuine” (hàng hiệu). Tuy nhiên, nhiều chuyên gia đã nhận định, cứ cho là chiến dịch sắp tới thành công, MGD cũng phải mất thời gian khá dài ghi dấu ấn của mình. Theo họ, MGD đã đưa khách đi quá xa khiến họ quên cả lối về.
Theo Tạp chí Thành Đạt - Hải An

Oct 25, 2011

Kỷ nguyên của bán lẻ, sự giao du và Internet

alt
[Marketing4u.vn] Marketing là một trong những lĩnh vực kinh doanh mà 10 năm trước đây hình hài của nó chưa phát triển như bây giờ. Sự phát triển liên tục của marketing giống như một khoa học và thực tiễn nhờ có sự góp sức không chỉ của các nhà quản trị và lãnh đạo công ty mà còn của các bậc thầy tên tuổi được biết đến như những cây đại thụ kinh điển.

Trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt dành cho E-xecutive, Rudelius William đã nói về vai trò của marketing, xu hướng phát triển hiện đại và sự ứng dụng chúng. Rudelius William hiện là giáo sư giảng dạy tại trường Carison thuộc Đại học tổng hợp Minnesota, giáo sư thỉnh giảng trường kinh doanh Kiev – Mogilian, tác giả cuốn sách “Cơ sở Marketing” đã được tái bản lần thứ 8 , tác giả tầm nhìn “bốn điểm” trong marketing và vai trò của nó trong chiến lược công ty. Rudelius William là một cây đại thụ trong lĩnh vực marketing chuyên về phương pháp giao tiếp có hiệu quả với khách hàng, sự tự tiếp thị, vai trò của nhà sản xuất và phân phối trong khâu tiêu thụ sản phẩm và các khuynh hướng khác bền vững hơn trong marketing hiện đại.


E-xecutive: Những nhân vật và sự kiện nào trong 5 năm gần đây có ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của marketing? 

Rudelius William: Trước hết, hiệu quả của quảng cáo bị giảm sút một cách nhanh chóng trên các phương tiện chủ yếu như TV và phương tiện thông tin đại chúng khác do tốc độ phát triển của các kênh thông tin cũng như của công nghệ. Chính những điều này đã cô lập quảng cáo. Kết quả là, các doanh nghiệp đã phải chuyển sang sử dụng các công cụ mang tính cá nhân hóa trong giao tiếp với khách hàng: gửi trực tiếp, marketing virus (truyền miệng), catalogue… 

Giá cả nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cũng giảm xuống nhờ có sự xuất hiện của các website kiểu như www.Priceline.com và www.ebay.com, đặc biệt là trong việc mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn và mua các hàng hóa sử dụng cá nhân. Mặt khác, các công ty đã bị quá tải vì lượng thông tin về các hình thức hạ giá hoặc các chế độ ưu đãi đặc biệt, vì vậy, càng ngày, việc tiếp cận với người tiêu dùng càng trở nên khó khăn hơn. 

Điều quan trọng là phải đánh giá được sự thay đổi vai trò của nhà sản xuất và phân phối trong quá trình bán hàng. Ngày nay, sự thành công của sản phẩm trong khâu bán lẻ phụ thuộc nhiều vào ý chí của những người làm công tác phân phối. Còn nhà sản xuất buộc phải chi trả “phí vào cửa” cho việc giữ chỗ trên kệ hàng, cũng như phải trả “tiền phạt” nếu như hàng hóa bị ế ẩm. 

Hơn nữa, ngày nay, sự phát triển của Internet cho phép nhà sản xuất có thể tạo ra hàng hóa mang tính chất cá nhân cho nhiều phân khúc thị trường và thậm chí là cho từng người tiêu dùng riêng biệt. 

E-xecutive: Theo Ông thì marketing là chức năng chiến lược hay là chức năng hỗ trợ? 

Rudelius William: Tôi coi marketing như là một quá trình có hai bước: bước thứ nhất - tìm hiểu xem người tiêu dùng tiềm năng cần cái gì và mong muốn điều gì; thư hai – đưa ra sản phẩm đáp ứng các nhu cầu và mong muốn này. Như vậy, marketing là chức năng quản lý nền tảng không thể htiếu đối với bất cứ công ty nào. Nhưng mối tương quan về số lượng nhân viên chịu trách nhiệm mảng tiếp thị và bán hàng trong công ty thường dao động trong sự phụ thuộc vào ngành hàng. 

Ví dụ, trong công ty kiểu như Nestle, các nhân viên marketing và bán hàng là thành phần nhân sự chủ yếu. Ngược lại, trong công ty kiểu như Boeing – nhân viên marketing và bán hàng chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Thậm chí ở một số nơi, nếu công tác marketing không hiệu quả thì việc nghiên cứu thị trường có thể dẫn đến thảm họa. Vì vậy, công ty nào chú ý lắng nghe khách hàng nhiều hơn thì công ty đó có nhiều khả năng thành công về marketing hơn. 

E-xecutive: Ông quan niệm như thế nào về marketing “truyền miệng”? 

Rudelius William: Các nghiên cứu chỉ ra rằng, “marketing truyền miệng” là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để chiếm lĩnh thị trường. Nếu như người thân và bạn bè kể về sự tuyệt vời của sản phẩm này hoặc sản phẩm khác thì xác suất mua hàng của bạn sẽ tăng lên. Và ngược lại, tiếng xấu có thể giết chết sản phẩm. 

Thông thường, “marketing truyền miệng” hoặc “marketing virus” được chấp nhận như là một chiến lược quảng bá sản phẩm thông qua Internet mà trong phạm vi đó, các cá nhân có thể gửi thông điệp do công ty soạn ra cho người thân và bạn bè qua e-mail. Nhưng “marketing virus” có nhiều điểm khác biệt hơn: từ cách phổ biến thông tin qua người quen cho đến việc đề nghị chiết khấu và mẫu thử miễn phí để tạo ra sự đồn thổi. Sự lan truyền của tiếng đồn tăng lên hàng ngày nhờ có các diễn đàn, sự trao đổi chương trình và trang web – những công cụ cho phép người tiêu dùng so sánh các loại hàng hóa với nhau. Ví dụ, loạt phim 5 phút được phát tán lên Internet bởi công ty BMW 3 năm trước đây đã đạt được hiệu quả tuyệt vời. Nhưng để đạt được hiệu quả này, marketing cần phối hợp sản phẩm, sự sáng tạo và mối quan hệ tâm lý bền chặt của người tiêu dùng với sản phẩm. 

E-xecutive: Đề tài của bài phát biểu gần đây nhất của ông là “Marketing bản thân”. Điều gì là nội dung cơ bản về “Marketing tự thân”? 

Rudelius William: Đây là câu hỏi rất thú vị mà ngày nay các sinh viên mới tốt nghiệp ra trường thường đặt ra. Chúng tôi đã soạn thảo một chương riêng biệt dài hai trang nói về đề tài này cho sinh viên học tập. Với sự giúp đỡ đơn giản này, chúng ta có thể đưa ra một chiến lược marketing hiệu quả cho từng cá nhân. Nó bắt đầu từ phân tích SWOT (điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - nguy cơ) thông thường, được sử dụng riêng cho con người chứ không phải cho công ty. Sau đó, theo kết quả phân tích, chúng ta có thể soạn thảo kế hoạch marketing cá nhân trên cở sở “4P”: 
  1. Product - tăng cường “sự lôi cuốn thị trường” mang tính chuyên nghiệp với sự hỗ trợ của chương trình đào tạo và thực tập. 
  2. Giá – Khung tiền lương mong muốn 
  3. Chiêu thị - Bảng tự giới thiệu, thư đính kèm, dự án, chuẩn bị phỏng vấn. 
  4. Phân phối – Bạn năng động đến đâu và vị trí địa lý gần nhà tuyển dụng lao động đến mức nào. 
Trong “Marketing bản thân” (marketing tự thân), điều quan trọng là phải nhớ việc người ta đánh giá chuyên môn trong một mức nào đó giống như là hàng hóa, và quan trọng phải biết không chỉ chứng tỏ mình ở khía cạnh tốt nhất mà còn chứng minh khả năng cạnh tranh của mình. 

E-xecutive: Nếu như quay trở lại với các khuynh hướng trong marketing, những khuynh hướng nào có tính chất dài hạn? 

Rudelius William: Có một số xu hướng như vậy. Về tổng thể, chúng gắn liền với sự thông tin hóa trong xã hội chúng ta. Trước hết, đó là sự phổ biến rộng rãi của các nhóm “chức năng chéo”, khi mà những chức năng này, như marketing, công nghệ, sản xuất và nghiên cứu, hợp tác với nhau để đạt được mục tiêu của tổ chức. 

Khuynh hướng “địa phương hóa” (toàn cầu + địa phương) cũng tương tư. Sản phẩm và dịch vụ ngày nay thường được bán tại nhiều quốc gia. Một mặt, chiến lược “hỗn tạp” cho phép sử dụng các lợi ích của tiêu chuẩn hóa (một loại hàng hóa giống nhau cho tất cả thị trường), nhưng mặt khác – sự thích nghi với thị trường địa phương (một vài tính chất của sản phẩm là độc nhất đối với thị trường khác). 

Nhu cầu sử dụng năng lượng sản phẩm sẽ có ý nghĩa quyết định nhiều hơn, hàng hóa khi sản xuất hoặc tiêu dùng sử dụng nhiều năng lượng trong tương lai sẽ bị loại bỏ hoặc bị thay thế. Mức độ tiêu thụ năng lượng là rất quan trọng. 

Sự phát triển hệ thống bán lẻ sẽ tiếp diễn vì nhu cầu của người tiêu dùng tăng lên trong mối quan hệ chặt chẽ với giá cả và chất lượng sản phẩm. Những người khổng lồ như IKEA, Wal-Mart và Home Depot sẽ từng bước chiếm lĩnh thị trường bán lẻ, kéo theo một loạt các vấn đề xã hội. Theo đó, kiểu “bán hàng trộn lẫn” (scrambled merchandising) sẽ chiếm lĩnh các cửa hàng bán lẻ kiểu mới. Ví dụ, trạm xăng dầu ngày nay không chỉ bán xăng, và tất cả các công ty, thậm chí là nhỏ xíu, cũng lần hồi lôi kéo người tiêu dùng và bán cho họ tất cả những gì có thể. 

Và cuối cùng – sự ảnh hưởng của công nghệ đối với người dân các nước phát triển sẽ tăng lên. Như vậy, giờ đây, sự nhận dạng bằng tần số radio (RFID) sẽ thay thế cho mã vạch, còn sự hội tụ dẫn đến sự xuất hiện điện thoại chụp hình và các thiết bị khác tích hợp vào đó các chức năng điện thoại, chụp hình, truy cập internet,nghe nhạc v.v... Nhờ có công nghệ Nano, ngành công nghiệp sensor không dây sẽ phát triển mạnh mẽ.
Theo Bwportal - Nguyễn Việt

Đừng bán linh hồn, hãy tiếp thị nó

[Marketing3k.vn] Nếu dựa vào sự giàu có của người khác mà kinh doanh thì không có doanh nghiệp nào có thể tự duy trì được. Chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của tác giả Dan Pallotta.

Trong một lá thư mở gửi các sinh viên tốt nghiệp Đại học ở Forrbes, người đứng đầu Tổ chức Kauffman Foundation Carl Schramm đã khuyến khích người trẻ theo đuổi con đường kinh doanh. Ông lập luận rằng: "Mặc dù là những bộ phận cần thiết trong xã hội, nhưng các chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận không thể tự duy trì sự tồn tại.

Để thực hiện tốt công việc của mình, những cơ quan này đều phải dựa vào tiền bạc có được từ kinh doanh." Nếu dựa vào sự giàu có của người khác mà kinh doanh thì không có doanh nghiệp nào có thể tự duy trì được. Nền công nghiệp âm nhạc là một ví dụ của kinh doanh không tự duy trì, bởi nó phụ thuộc vào tiền bạc của người tiêu dùng, những người sẽ quyết định có bỏ tiền ra mua sản phẩm âm nhạc hay không.

Các Tổ chức nhân đạo đều cung cấp một loại dịch vụ: đó là cứu chữa, chăm sóc cho người nghèo. Các nhà tài trợ lại đứng ra trả tiền cho những tổ chức này duy trì hoạt động. Có gì khác biệt giữa loại hình này với hình thức các Spa thường bán phiếu sử dụng dịch vụ cho khách hàng dùng làm quà tặng cho người khác? Về cơ bản, chúng đều cùng một kiểu hợp đồng. Tuy nhiên, hoạt động nhân đạo tất nhiên có giá trị hơn. Bởi khi bạn giúp đỡ một người nào đó, bạn đã tạo cơ hội cho họ có khả năng tạo ra của cải.

Làm từ thiện ít nhất cũng "tự duy trì" được kiểu như ngành công nghiệp âm nhạc, ngành công nghiệp mỹ phẩm hay bất kỳ ngành nào mà doanh thu phụ thuộc vào thu nhập của khách hàng. Những ngành công nghiệp này có sức thu hút tự nhiên và khiến con người nảy sinh ham muốn. Nếu bạn có thể khiến người ta cảm thấy không thể thiếu một cái gì đó, và chính bạn cung cấp thứ này thì bạn đã sở hữu một ngành công nghiệp tự duy trì.

Chúng ta đã và đang hoạt động theo một lý thuyết sai lầm về làm từ thiện. Khái niệm sai lầm rằng từ thiện không phải là một mô hình kinh doanh tự duy trì được làm nảy sinh nhiều tác động phụ. Chính khái niệm này đã ngăn chúng ta suy nghĩ đến việc xây dựng một thị trường đủ lớn cho các tổ chức từ thiện để chúng có khả năng tiếp cận những vấn đề xã hội quan trọng.

Hầu như tất cả mọi người đều muốn giúp đỡ người khác. Họ sẽ cảm thấy cuộc sống không đủ đầy nếu không có mối liên kết này với nhân loại. Chúng ta có thể đánh vào mong muốn của con người bằng cách tiếp thị lòng từ bi, giống như cách chúng ta cẩn trọng và chặt chẽ trong tiếp thị những chiếc xế hộp sang trọng.

Khi làm như vậy, chúng ta có thể kích thích người ta giúp đỡ người khác nhiều hơn nữa. Nếu bạn phải làm từ thiện vì bạn được yêu cầu làm thế, liệu bạn có muốn bỏ ra nhiều tiền hoặc muốn làm từ thiện thường xuyên không? Yêu cầu từ thiện chính là đang tiếp thị. Giới hạn của hình thức này vẫn chưa được thử nghiệm đánh giá.

John Kenneth Galbraith viết: "Nguồn quan trọng và rõ ràng nhất trong nhu cầu khách hàng là quảng cáo và nghệ thuật bán hàng của những nhà cung cấp sản phẩm. Đầu tiên, bạn làm ra sản phẩm, sau đó, bạn cần tạo ra thị trường." David Oglvy đã áp dụng điều này vào thực tế một cách thô sơ nhất hồi năm 1987: "cố gắng tung ra một thương hiệu chất tẩy rửa mới với một chiến dịch với kinh phí ít hơn 10000000 đô la Mỹ."

Trong lĩnh vực hoạt động vì lợi nhuận, thật là "bất lương" nếu khởi động một sản phẩm mới mà không có ngân sách quảng cáo phù hợp để xây dựng thị trường cho sản phẩm đó. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nhân đạo, nghĩa vụ của bạn là phải xây dựng một thị trường cho nó mà không được lãng phí một xu vào việc này.

Vào năm 2009, Một trong những tổ chức từ thiện phát triển toàn cầu lớn nhất "Save the Children" đã dành 3.31 triệu đô la Mỹ cho quảng cáo. Trong khi đó, ngân sách cho quảng cáo của công ty Walt Disney (một công ty giải trí) là 2 tỉ đô la Mỹ - gấp 600 lần ngân sách quảng cáo của "Save the Children". Chúng ta có thể cứu giúp được thêm rất nhiều trẻ em nếu chúng ta chú trọng hơn đến việc xây dựng thị trường cho hoạt động từ thiện.

Nếu không chú trọng đủ đến quảng cáo, chúng ta không chỉ không cứu được trẻ em, mà còn đặt các tổ chức nhân đạo và những ý định tốt đẹp của chúng dưới sự tài trợ của lòng thương xót của các tổ chức lớn, hoạt động cho những chương trình không phù hợp với nhiệm vụ của chúng. Chẳng khác nào, những tổ chức nhân đạo này phải tự bán linh hồn của chính họ.

Cựu TT Hoa Kỳ Franklin Roosevelt từng nói, "Nếu tôi bắt đầu lại cuộc đời... Tôi sẽ tham gia vào hoạt động kinh doanh quảng cáo...Quảng cáo nuôi dưỡng sức mạnh tiêu thụ. Nó đặt ra cho người ta mục tiêu phải có một ngôi nhà tiện nghi hơn, quần áo đẹp hơn, thức ăn ngon hơn... cho chính bản thân họ và gia đình họ." Bởi vậy, quảng cáo chắc chắn cũng có thể khiến con người có mục tiêu xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Lĩnh vực Nhân đạo cũng cần phải quan tâm đến tiếp thị nhiều như lĩnh vực hoạt động vì lợi nhuận. Cách duy nhất mà các tổ chức nhân đạo có thể tự lực được và có thể đạt được đến quy mô cần thiết có thể giải quyết hàng loạt các vấn đề xã hội ngày nay - đó là kích thích nhu cầu của người tiêu dùng với những hàng hóa và dịch vụ từ thiện. Xây dựng thị trường từ thiện là điều cần thiết, nếu các tổ chức từ thiện không muốn phải bán linh hồn chính mình như hiện nay.
Theo VeF - KAZE (THEO HBR)

Oct 24, 2011

“Khi người ta chết là lúc mình sống”

[Marketing3k.vn] Thất bại của người này là cơ hội cho người khác hay “khi người ta chết là lúc mình sống” là nhận định chung của nhiều nhà kinh doanh.

Thay đổi tầm nhìn từ những bài học lớn

Nhận định trên không chỉ đúng đối với nhà đầu tư trong lĩnh vực chứng khoán, vàng, bất động sản mà còn trên nhiều lĩnh vực khác như kinh doanh, buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta lại không biết tận dụng thời cơ. Họ giải thíchDoanh nghiệp/ cơ sở của tôi nhỏ, làm sao đấu lại công ty lớn" hay "các công ty lớn còn chết, mình nhỏ ăn thua gì". Thế là họ chấp nhận số phận và để cơ sở, doanh nghiệp của mình bị cuốn theo cơn lốc khủng hoảng.

Tuy nhiên đã có nhiều nhà đầu tư trên thế giới tìm thấy con đường tăng trưởng và phát triển từ thất bại của người khác. Điển hình là John Neff, một nhà đầu tư chứng khoán nổi tiếng của Mỹ, cựu lãnh đạo của quỹ Windsor.

Với phương châm mua rẻ bán cao, ông tìm kiếm và thu mua cổ phiếu giá rẻ từ những công ty bị chê. Sau một thời gian, số cổ phiếu giá rẻ tăng giá trị trở lại. Ông đem bán dần chúng cho nhà đầu tư để thu lợi nhuận.

Tương tự, Carlos Slim là một trong những người đàn ông giàu nhất thế giới với giá trị tài sản khoảng 59 tỷ đô la Mỹ. Có lúc, ông vượt qua cả vị trí giàu nhất thế giới của Bill Gate.

Ông là một minh chứng điển hình của những doanh nhân sống và phát triển rong khi nhiều người khác đóng cửa, khốn đốn.

Carlos thường mua các công ty đang làm ăn thua lỗ với giá thấp. Sau đó, ông đầu tư tiền vào để phát triển và mở rộng quy mô.

Ông tiết lộ: "Khi quyết định mua lại công ty nào, tôi thường nhìn vào tiềm năng phát triển của nó. Các công ty này thường đang gặp khó khăn nên tôi mua lại được với giá thấp. Đó chính là ưu điểm".

"Tất nhiên, tôi đã phải dự báo được khả năng phát triển của công ty dựa trên số liệu và những kế hoạch công ty đang tiến hành. Đó là nguyên tắc để thành công chứ không phải phép màu gì".

Qua bài học trên, chúng ta có thể nhận thấy tình hình khủng hoảng không phải là ngõ cụt cho sự nghiệp đầu tư cũng như kinh doanh của bạn.

Tâm lý đám đông phá hỏng cơ hội

Những tháng đầu năm 2008, một số nhà đầu tư chứng khoán lao đao khi cổ phiếu giảm sút. Những nhà đầu tư bất động sản khốn đốn vì lãi suất ngân hàng tăng cao trong khi bất động sản hạ giá. Những nhà đầu tư vàng cũng thắc thỏm khi giá vàng trồi sụt thất thường. Nhiều người trong số họ phải gánh nợ ngân hàng cùng với nhiều khoản lãi mẹ, lãi con. Để giảm lỗ, họ phải bán đổ bán tháo cổ phiếu, bất động sản với hy vọng vớt vát phần nào. Càng bán họ lại càng lỗ.

Tương tự , khi xảy ra khủng hoảng, những người làm nông thường ồ ạt theo số đông. Ví dụ khi café rớt giá, nhiều nông dân chán nản chặt bỏ hàng loạt cây café để trồng cây khác. Đến khi café tăng giá họ lại ồ ạt trồng lại. Với những người nuôi gà, lợn khi có dịch bệnh, họ ồ ạt rã bầy, phá chuồng để chăn nuôi gia súc khác. Khi thịt gà, thịt lợn lên giá họ mới rủ nhau gây dựng lại từ đầu.

Tâm lý đám đông này có động gây nên khủng hoảng thừa hoặc thiếu trong tất cả các lĩnh vực. Những nhà đầu tư hoặc kinh doanh trong cùng lĩnh vực có thể "chết chùm" với nhau mà không cách nào thoát khỏi.

Theo thạc sĩ Đinh Thế Hiển, giám đốc viện nghiên cứu Tin học và kinh tế ứng dụng, tâm lý đám đông là đặc điểm của phần lớn những nhà kinh doanh và đầu tư nước ngoài. Tâm lý này tác động lớn đến xu hướng lên xuống của lĩnh vực đầu tư.

Số đông thường ngại đầu tư khác người vì thiếu tự tin và sợ rủi ro. Ngoài ra, việc không có vốn cầm cự trong khủng hoảng cũng là nguyên nhân khiến nhiều người để mặc thời thế đưa đấy.

Nếu chủ động hành động ngược lại, họ có thể nắm chắc cơ hội vực dậy. Anh Nguyễn Nhơn Quý, nhân viên Công ty chứng khoán Thăng Long chia sẻ bí quyết sinh tồn: "Khi cổ phiếu xuống, tôi không đầu tư theo kiểu dài hạn như trước. Với những loại cổ phiếu có giá trị tôi tạm thời gác chúng qua một bên chờ cơ hội lên giá. Song song đó tôi tìm cách "lướt sóng ngắn" (mua các cổ phiếu giá thấp và ngay khi chúng lên giá, nhà đầu tư bán ngay) để kiếm thu nhập và duy trì trong thời gian chờ đợi".

Nhà đầu tư phải biết chờ đợi

Hiện nay nhà đầu tư vàng và bất động sản cũng áp dụng "lướt sóng ngắn" để sinh tồn. Ở những lĩnh vực kinh doanh khác, bạn vẫn có cơ hội phát triển khi khủng hoảng xảy ra. Ví dụ như trong cơn khủng hoảng sữa và một số loại thực phẩm bị nhiễm chất melamine trong thời gian vừa qua, nhiều công ty uy tín cũng bị vạ lây. Doanh số sụt giảm nghiêm trọng.

Tuy nhiên, một số công ty sữa đã biến đó thành cơ hội để khẳng định chất lượng của mình bằng những chứng nhận kiểm định an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Đồng thời, họ tăng cường các hoạt động quảng cáo, khuyễn mãi để thu hút người tiêu dùng

Cũng trong năm qua, khi giá cả tăng cao, rất nhiều người quyết định tạm đóng cửa vì nhân công bỏ đi, khách hàng cắt hợp đồng. Để vượt qua giai đoạn này, chị Nguyễn Thị Thu Sương, giám đốc SuongGroup, chuyên hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo và thời trang, đã lội ngược dòng bằng chính sách giữ người. "Tôi hỗ trợ cho nhân viên thêm tiền xăng và phục cấp ăn trưa. Bằng cách này, nhân viên cảm thấy mình được cấp trên quan tâm, chia sẻ nên gắn bó hơn với công ty và giúp công ty vượt qua khủng hoảng".

Một nhân viên nghỉ việc sẽ để lại lỗ hổng rất lớn và có thể kéo theo phản ứng dây chuyền. Công ty không có nhân lực, chắc chắn sẽ khốn đốn và lao đao hơn" Chị Thu Sương chia sẻ.

Làm sao để thắng lợi sau khủng hoảng

Có thể nói, khủng hoảng như một cơn bão. Điểm an toàn nhất chính là tâm bão. Nếu bạn tìm thấy tâm bão để trú ẩn và quan sát tình hình để thích ứng kịp thời, bạn sẽ tồn tại. Trong lúc khủng hoảng, bạn sẽ chứng kiến nhiều doanh nghiệp sụp đổ. Từ điểm yếu của họ, bạn rút ra bài học kinh nghiệm cho mình để tạo nên sự khác biệt.

Nếu đầu tư vào thị trường chứng khoán, ngoại tệ, vàng, bất động sản bạn cần cân nhắc về giá trị và thời điểm. Nếu bạn mua chứng khoán với giá chưa "chạm đáy" bạn có nguy cơ bị lỗ rất cao. Bạn chỉ nên mua khi giá thấp hơn giá trị thật.

Đầu tư theo dạng này, bạn không nên quan tâm đến xu thế chung và phải cân nhắc hành động ngược hướng với các nhà đầu tư khác. Bạn phải thật tự tin và có óc phán đoán quan sát tốt.

Nếu khủng hoảng xảy ra do tác động khách quan như trường hợp sữa có chứa melamine, bạn cần tăng cường quảng cáo để củng cố lòng tin cho khách hàng. Hãy đẩy mạnh dịch vụ chăm só khách hàng để nuôi dưỡng lòng trung thành của họ.

Theo Doanhnhan360/TT&GĐ