Tư vấn marketing

Sản phẩm và dịch vụ của bạn mang lại giá trị gì?

Phong thủy khai vận

Khai thông khí vận, sức khỏe - tài lộc - sự nghiệp

Quý Hải | Nhà tư vấn

Thực tế - tinh tế khi ứng dụng trong cuộc sống

Khai vận năm Bính Thân 2016

Sức khỏe - Sự nghiệp - Tài lộc để đảm bảo một cuộc sống Hạnh Phúc!

Cung chúc Tân Niên

Vạn sự như ý, đại cát đại lợi!

Vững Xây Tổ ấm

Đàn ông xây nhà - Đàn bà xây tổ ấm!

Vững Xây Cuộc Sống

Đất lành chim đậu - An cư lạc nghiệp!

Feb 25, 2012

Tầm quan trọng của marketing trong khó khăn

Ảnh minh họa
[Marketing3k.vn] “Không được cắt giảm ngân sách marketing. Lịch sử cho thấy bao giờ khủng hoảng cũng mang lại những thời cơ có thể nói là tiền vô khoáng hậu cho thị trường, trong một bối cảnh không mấy sôi động, náo nhiệt do thiên hạ đều ra sức cắt giảm chi phí”.

Hiện nay, hầu hết các công ty đang thi nhau cắt giảm chi phí và thu hẹp ngân sách do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế. Trong khi đó, những chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực công nghiệp lại cùng nhau đi đến một quan điểm rằng: trong thời điểm này, việc hết sức thiết yếu và tối quan trọng là không những cần phải giữ vững cơ cấu phân bố ngân sách cho marketing, mà thậm chí còn phải cải thiện cơ cấu ấy theo chiều hướng tận dụng được tối đa những cơ hội manh nha cùng với sự tấn công của cuộc khủng hoảng.

“Không được cắt giảm khoản ngân sách đó. Lịch sử cho thấy bao giờ khủng hoảng cũng mang lại những thời cơ có thể nói là tiền vô khoáng hậu cho thị trường, trong một bối cảnh không mấy sôi động, náo nhiệt do thiên hạ đều ra sức cắt giảm chi phí”, Ken Makovsky trích lời của biên tập viên trang AdAge – ông Jack Neff.

Ken Makovsky, Chủ tịch Makovsky, một công ty PR có trụ sở tại New York, chỉ ra rằng rất nhiều các doanh nghiệp hiện đang phải trải qua cuộc vật lộn với một trong những câu hỏi thường thấy nhất về giảm bớt chi tiêu: “Tại những thời điểm khó khăn như hiện nay, liệu chúng ta có nên giảm bớt đầu tư cho các sáng kiếnmarketing hay không?” Theo quan điểm của Makovsky, ông cho rằng khủng hoảng hay suy thoái không phải là thời điểm thích hợp để thu hẹp ngân sách phân bổ cho marketing.

“Nếu bạn lắng nghe Advertising Age, nghe các nhà khoa học hàn lâm, các nhà hoạt động xã hội, cũng như những chuyên gia khác, bạn sẽ ngay lập tức thay đổi điểm và cuối cùng sẽ không bao giờ làm việc đó!”, Makovsky nhận xét.

Những gì Makovsky viết trong một bài viết ở blog cá nhân của mình mang tên “Ba đồng xu của tôi” đã cho thấy quan điểm của ông rất rõ ràng về vấn đề này: Tăng cường các sáng kiến marketing cùng với các hoạt động quan hệ công chúng trong suốt những khoảng thời gian khó khăn là một vụ đầu tư khiêm tốn. “Chúng ta đang nói về một vụ đầu tư khiêm tốn nhất về cả thời gian và tiền bạc nhưng sẽ mang lại những khoản lợi nhuận không ngờ”.

Để minh chứng cho lời nói của mình, ông đã dẫn ra hàng loạt các tác giả của những bản báo cáo, những bài nghiên cứu cùng chung quan điểm, trong đó phải kể đến: Giáo sư John Quelch của Trường kinh doanh Havard; tập thể giáo sư của Trường kinh doanh Smeal bang Pennsylvania, hay McGraw-Hill. Tất cả đều đi đến một thống nhất rằng việc tăng chi tiêu cho marketing và/hoặc quảng cáo trong thời kì suy thoái kinh tế sẽ thu được những lợi ích hết sức to lớn, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn, doanh thu tăng nhanh, lợi nhuận cao hơn, và một sự thay đổi tích cực đáng kể trong nghiên cứu định vị thị trường.

“Trong thời kì khủng hoảng, người tiêu dùng sẽ hướng tới các giá trị cốt lõi nhiều hơn, các nhà phân phối thì quan tâm tới tiền mặt, còn những người lao động thì bỗng trở nên lo lắng về công ăn việc làm. Nhưng sự xuống dốc của nền kinh tế không phải là thời điểm đề dừng chi tiêu cho marketing, thay vào đó nó mang lại cơ hội tốt để bạn hiểu ra những nhu cầu của khách hàng và các đối tác đang biến chuyển ra sao, và cần phải ứng dụng các chiến lược vào thực tại mới như thế nào cho hợp lý”, giáo sư John Quelch giải thích trong blog của ông.

Một nghiên cứu của McGraw-Hill về các cuộc khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ đã tiến hành phân tích 600 công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, và kết quả của nó cho thấy rằng những công ty mô hình B2B (Business to Business – Từ doanh nghiệp tới doanh nghiệp) theo đuổi chiến lược duy trì hoặc tăng chi tiêu cho quảng cáotrong suốt giai đoạn khủng hoảng 1981 – 1982; thì cũng theo đó doanh thu của họ tăng lên tới 256%, không chỉtrong những năm khủng hoảng mà cả ba năm sau đó cũng thế – hơn hẳn những doanh nghiệp cắt giảm hoặc loại bỏ hẳn quảng cáo.

“Trước năm 1985, doanh thu của các công ty tỏ ra mình là những nhà quảng cáo tháo vát, năng nổ, đều đã lên tới con số 256% so với những công ty khác không theo đuổi chiến lược quảng cáo của mình”, nội dung bài nghiên cứu của McGraw-Hill.

Các chuyên gia trong lĩnh vực marketing đều nói rằng: kinh nghiệm từ những lần xuống dốc trước đây của nền kinh tế đã cho thấy hiệu quả của việc các tập đoàn lớn triển khai chiến dịch marketing dữ dội để chiếm lĩnh thị phần từ các đối thủ cạnh tranh ra sao. “Trong lần khủng hoảng năm 2001, Dell và Wal-Mart đã tinh mắt nhìn nhận sự suy thoái như là một cơ hội để rót nhiều vốn đầu tư hơn vào marketing so với các đối thủ kém thế. Họ đã noi gương theo những bậc đàn anh là hãng xì gà Camel và ôtô Chevrolet – những hãng nổi tiếng với chiến dịch marketing lẫy lừng trong thời kì Đại suy thoái”, ngài Makovsky trích dẫn lời của Anna Maria Virzi, tổng biên tập của The Clickz, một công ty tư vấn chuyên nghiệp về marketing số hóa có trụ sở tại New York.

Cùng hội tụ tại một điểm với các ý kiến trên, nghiên cứu của Trường kinh doanh Smeal triển khai vào năm 2005 đã tiến hành điều tra lấy ý kiến từ 154 giám đốc marketing cấp cao, và kết quả của nó cho thấy: một số công ty nhất định đã ăn nên làm ra ra sao trong thời kì khủng hoảng, đó cũng là những công ty đã sớm nhìn thấy suy thoái như một thời cơ tốt và đẩy mạnh ngân sách chi tiêu cho marketing.

Bản báo cáo xuất bản trên cộng đồng mạng BNET, một nhà cung cấp thông tin cho các chuyên gia quản lý, cũng chứng minh rằng các tập đoàn lớn như T&G, Intel và hãng bán lẻ Wal-Mart là những điển hình trong việc tận dụng suy thoái kinh tế như một công cụ để triển khai ồ ạt các chiến dịch marketing của mình. Proctor & Gamble thành công với việc tung ra loại xà bông Ivory trong thời kì Đại suy thoái, Intel thì cho ra mắt dòng sản phẩm “Intel Inside” trong giai đoạn khủng hoảng đầu những năm 1990, và Wal-Mart qua mặt các kì phùng địch thủ bằng chính sách giá thấp từng ngày (EDLP – Every Day Low Prices) trong những ngày suy tàn của năm 2000-2001”, bản báo cáo của Bnet trích dẫn nghiên cứu từ Đại học Smeal.

Thật thú vị khi một bản điều tra do CLB CMO (Chief Marketing Officer- Giám đốc Marketing) thực hiện cũng tỏ thái độ không đồng tình với việc cắt giảm ngân sách marketing, cho rằng “ngân sách cho marketing vẫn không hề bị ảnh hưởng bởi sự đi xuống của nền kinh tế”. Bản điều tra được tung ra tháng 5/2008, cho biết 71% những người tham gia đã trả lời rằng ngân sách marketing của họ không hề bị cắt giảm trong năm 2008,trong khi đó chỉ có 14% tiết lộ rằng họ đã nhìn thấy viễn cảnh của việc buộc phải cắt giảm, và quy cho nguyên nhân việc làm của mình cho những áp lực gây ra bởi cuộc khủng hoảng.

Không nằm ngoài luồng quan điểm trên, Seth Godin, một chuyên gia marketing trực tuyến, đồng thời là một tác giả có tên tuổi được nhiều người biết đến như là người truyền bá rộng rãi khái niệm về tiếp thị xin phép (permission marketing), cũng hoàn toàn tin tưởng rằng việc chi tiêu nhiều hơn cho marketing là cần thiết, chính việc này sẽ giúp củng cố niềm tin nơi khách hàng.

Trong blog của mình, Godin viết: “Tại sao các ngân hàng lại chi nhiều tiền cho những hành lang lát bằng cẩm thạch, và những bức trần nhà cao ngất tới vậy? Nguyên cớ xuất phát của việc này có lẽ cũng không khác gì so với việc có khá nhiều người trồng những thảm cỏ xanh tươi trước nhà”. Ông nói rằng những khoản chi tiêu như vậy không có ý nghĩa lý gì ngoại trừ là những khoản lãng phí có tổ chức và chủ định. “Việc tiêu dùng phóng khoáng đôi khi chính là việc người ta muốn thể hiện sự tự tin, đôi lúc là một chút ngạo mạn”.

Godin tin rằng trong những giai đoạn phải chịu nhiều sức ép tài chính và cần các cuộc giải cứu như hiện nay, giải pháp hiển nhiên mà hầu hết mọi người đều nhìn thấy – là loại bỏ tất cả các khoản chi tiêu lãng phí – đôi khi không mang lại hiệu quả gì. “Trên thực tế, chúng ta có xu hướng lo lắng hơn bao giờ hết về tình trạng tổ chức, sắp xếp mà chúng ta đang phải đối mặt”, Godin nhấn mạnh trong blog của mình, vốn được coi là một trongnhững blog kinh doanh danh tiếng nhất trên thế giới.

Feb 24, 2012

Đẩy mạnh Marketing trong thời kỳ suy thoái, tại sao không?

[Marketing3k.vn] Công ty bạn sẽ ứng xử như thế nào trong thời kỳ suy thoái? Tạm ngưng, thậm chí xóa bỏ các kế hoạch marketing? Sa thải nhân lực?... Tất cả những phương cách đó đều chưa ổn. GS John Quelch chia sẻ những ý kiến mới mẻ và tích cực hơn trong bài viết "Chiến lược Marketing trong thời kỳ suy thoái"

Những dấu hiệu của một cuộc suy thoái nặng nề luôn luôn đe dọa chúng ta. Khi niềm tin (vốn đã bị suy giảm) của người tiêu dùng bị tác động, thì tiêu dùng - thứ mà nền kinh tế Mỹ đang dựa vào, cũng bị ảnh hưởng theo. Thêm vào đó là cú sốc của người dân về vấn đề an ninh kể từ sau sự kiện 11 tháng 9, và khả năng của một cuộc chiến tranh kéo dài chống lại những kẻ thù không xác định.

Thị trường chứng khoán cũng e sợ một sự không chắc chắn, bởi chính những người tiêu dùng cũng lo sợ giống như vậy. Ở Nhật Bản, tỉ lệ lãi suất đã giảm tới mức 0%, các chính trị gia đã phải kêu gọi người dân thể hiện lòng yêu nước bằng cách chi tiêu nhiều hơn, nhưng cũng không thể bù đắp được những thương tổn về niềm tin của họ sau trận động đất Kobe và vụ tấn công bằng khí gas trong tàu điện ngầm Tokyo.

Chính nước Mỹ chứ không phải là Nhật Bản đang phải đối mặt với những khó khăn ở phía trước, và có lẽ còn lâu hơn thời kỳ chiến tranh vùng Vịnh vào đầu những năm 1990. Sau đây là 9 nhân tố mà các công ty nên ghi nhớ để có thể vượt qua thời kỳ khủng hoảng trong tương lai: 

Thứ nhất: Nghiên cứu về người tiêu dùng, thay vì cắt giảm ngân sách dành cho việc nghiên cứu thị trường. Bạn cần biết nhiều hơn về những cách khách hàng đang định nghĩa lại các giá trị như thế nào và phản ứng ra sao với suy thoái.

Những đường co giãn về giá đang thay đổi. Người tiêu dùng cũng chịu mất nhiều thời gian để tìm kiếm các mặt hàng tiêu dùng lâu bền hơn và mặc cả nhiều hơn. Họ sẵn sàng không trì hoãn việc mua hàng, mua các hàng hóa giá rẻ hơn hoặc mua ít đi nếu như ngày nay họ có thể sống mà không cần tới chúng.

Những thương hiệu đáng tin cậy thì đặc biệt là có giá trị. Họ hoàn toàn có thể vẫn thành công trong việc tung các sản phẩm ra thị trường trong khi niềm tin vào các sản phẩm và thương hiệu lại giảm dần. Những hoạt động tiêu dùng thường thấy cũng xuất hiện ít hơn. 

Thứ hai: Hãy tập trung vào các giá trị gia đình. Khi chiến tranh nổ ra, chúng ta sẽ phải rời bỏ các làng quê để tập hợp dưới lá cờ đấu tranh.

Chúng ta sẽ có xu hướng tìm kiếm những hình ảnh về không khí gia đình ấm cúng bên lò sưởi trong các quảng cáo thay cho những hình ảnh hấp dẫn của thể thao, những chuyến phiêu lưu hay chủ nghĩa cá nhân.

Sự hài hước và sự hấp dẫn sẽ không có mặt trong nỗi sợ hãi. Việc buôn bán thiệp chúc mừng, dịch vụ điện thoại, những tiêu dùng cho đồ nội thất gia đình khi cần thiết và giải trí gia đình sẽ tiếp tục tăng.

Bởi lẽ sự bất ổn đó không chỉ bắt chúng ta phải ở nhà mà còn phải liên tục giữ liên lạc với gia đình và bạn bè.

Thứ ba: Duy trì chi phí cho các hoạt động marketing. Đây không phải là thời điểm để cắt giảm các chương trình quảng cáo.

Nhiều tài liệu cho thấy rằng khi các thương hiệu tăng cường hoạt động quảng cáo của mình trong thời kỳ suy thoái kinh tế, khi các đối thủ đang cắt giảm nó, thì có thể giúp công ty tăng thị phần và sẽ có lợi với chi phí thấp hơn là lúc họ thực hiện điều đó trong thời kỳ kinh tế phát triển bình thường.

Các hãng giàu có hơn có thể xem xét tỷ lệ quảng cáo ở mức độ vừa phải và duy trì chúng trong một vài năm. Nếu bạn phải cắt giảm chi phí cho hoạt động marketing, hãy cố gắng duy trì tần suất quảng cáo bằng việc thay thế các quảng cáo trên tivi bằng việc quảng cao trên đài, hoặc tăng việc sử dụng các hình thức quảng cáo trực tiếp để có tác động lên doanh số ngay lập tức. 

Thứ tư: Hãy điều chỉnh cho phù hợp các danh mục mặt hàng. Những người làm marketing phải dự đoán được nhu cầu cho mỗi loại hàng hóa trong danh mục các mặt hàng, khi mà người tiêu dùng chọn mua những sản phẩm có giá rẻ hơn và chỉ nhấn mạnh vào chất lượng hàng, ví dụ như xe ô tô với ít chức năng hơn.

Trong những thời điểm khó khăn, các loại hàng hóa đa chức năng sẽ được ưa thích hơn là các mặt hàng chuyên dụng, và các sản phẩm kém hơn trong danh mục cũng sẽ bị loại dần.

Đối với nhóm hàng tạp hóa, những chương hiệu riêng với chất lượng cao chiếm ưu thế hơn các thương hiệu riêng với chất lượng cao chiếm ưu thế hơn các thương hiệu có chất lượng quốc gia. Các khách hàng công nghiệp cũng không được tính riêng lẻ.

Những mẹo quảng cáo cũng trở nên không có tác dụng, thực tế chỉ có chất lượng, sự an toàn, độ tin cậy và độ bền của hàng hóa mới có thể tồn tại được.Các sản phẩm mới, đặc biệt là những sản phẩm có thể chứng minh cho người tiêu dùng chất lượng thực sự để từ đó gây áp lực lên đối thủ cạnh tranh vẫn cần được quảng bá, nhưng tung ra các chương trình quảng cáo là để nhấn mạnh vào mức giá cạnh tranh vượt trội chứ không phải là cho hình ảnh của công ty. 

Thứ năm: Hợp tác với các nhà phân phối. Trong những thời kỳ bất ổn, không ai muốn trói chặt nguồn vốn lưu động của mình trong đống hàng tồn kho. 

Ưu đãi cho những người mua sớm, tài trợ thêm và nhiều chính sách trả lại hào phóng sẽ thúc đẩy các nhà phân phối mua nhiều hàng của bạn. Điều này đặc biệt đúng với các sản phẩm mới chưa được khẳng định. 

Hãy cẩn trọng khi mở rộng mạng lưới phân phối với nhiều kênh giá rẻ hơn, bởi lẽ nếu làm như vậy sẽ gây ảnh hưởng tới hình ảnh của công ty bạn và mối quan hệ với nhà phân phối đã có. Nếu suy thoái kinh tế diễn ra trong thời gian ngắn, biện pháp này cũng sẽ không đem lại lợi nhuận.

Tuy nhiên, đây cũng có thể là lúc bạn cắt giảm những nhà phân phối không hiệu quả và tăng cường lực lượng kinh doanh bằng việc tuyển thêm những người đã bị các công ty khác sa thải. 

Thứ sáu: Chiến lược điều chỉnh giá. Các khách hàng sẽ mua hàng với mức giá hợp lý nhất.

Bạn cũng không cần thiết phải cắt giảm giá đã niêm yết, nhưng có thể cần tăng thêm những chiến dịch khuyến mãi giá trong thời gian ngắn, giảm chiết khấu sản lượng, mở rộng tín dụng cho những khách hàng lâu năm và tăng cường việc tạo ra các gói hàng với giá thấp hơn.

Trong những thời điểm khó khăn, việc cắt giảm giá sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn là các chương trình khuyến mãi như đánh cược hay những lời đề nghị qua thư điện tử. 

Thứ bảy: Củng cố thị phần. Củng cố trong tất cả thị trường nhưng chủ yếu ở một số sản phẩm có triển vọng phát triển cao, ví dụ như các dịch vụ an ninh hay quay camera.

Các công ty trong một cuộc chiến giành về thị phần, và trong một vài trường hợp, có thể là vì sự tồn tại. Biết rõ về cơ cấu chi phí sẽ đảm bảo cho bất kỳ một sự cắt giảm hay sáng kiến hợp nhất nào cũng đều tiết kiệm được tối đa tiền bạc, nhưng lại tác động ít nhất tới khách hàng.

Với vị trí vững chắc và cơ cấu chi phí tốt nhất, các công ty như Wal-Mart và hãng hàng không Southwest (Southwest Airlines) có cơ sở để hy vọng vào việc tăng thị phần. Nhiều công ty khác với báo cáo tài chính tốt hoàn toàn có thể làm được điều này bằng cách chiến thắng các đối thủ yếu. 

Thứ tám: Nhấn mạnh giá trị cốt lõi. Mặc dù nhiều công ty đã phải cắt giảm nhân lực, song các giám đốc điều hành vẫn có thể củng cố lòng trung thành của những người ở lại bằng cách nhấn mạnh vào những giá trị cốt lõi của công ty, trấn an các nhân viên của mình rằng công ty đã phải vượt qua những thời kỳ khó khăn trước đây, duy trì chất lượng sẽ tốt hơn cắt giảm những khoản đầu cơ, và phục vụ các khách hàng hiện tại sẽ tốt hơn cố gắng phục vụ tất cả mọi người.

Khả năng lãnh đạo tốt là điều cần thiết, các giám đốc điều hành cần giành nhiều thời gian hơn với khách hàng và nhân viên của mình. 

Suy thoái kinh tế có khả năng làm bản báo cáo của giám đốc tài chính trở nên quan trọng hơn báo cáo thu nhập của giám đốc marketing. Quản lý vốn lưu động có thể dễ dàng lấn át quản lý mối quan hệ với khách hàng. Các giám đốc điều hành phải vượt được qua điều này. Những công ty thành công không vứt bỏ các chiến lược marketing trong thời kỳ suy thoái mà phải biết thích nghi với nó.

Thứ chín: Nhìn về tương lai. Nhu cầu thấp hơn về xe hơi và các kỳ nghỉ tạo ra nhu cầu tiềm năng mà những người làm marketing phải nắm bắt và sẵn sàng đáp ứng khi niềm tin của người tiêu dùng tăng lên.

Nhưng điều đó không có nghĩa là nhảy vào ngay khi có dấu hiệu tích cực đầu tiên. Niềm tin của người tiêu dùng đã tăng trong hai tháng liên tiếp sau khi kết thúc chiến tranh vùng Vịnh, nhưng rồi lại giảm xuống. Suy thoái kinh tế sẽ kéo dài trong cả một năm.

Tương tự như vậy, việc bắt giữ được Osama Bin Laden sẽ có thể làm tăng niềm tin của người tiêu dùng, nhưng điều đó chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn.

Feb 22, 2012

Xu thế của 10 ngành kinh doanh nhượng quyền trong năm 2012

[Marketing3k.vn] Điều gì sẽ xảy ra với khu vực nhượng quyền trong tương lai? Bạn hãy xem dự báo 10 xu thế ngành hàng trong năm 2012 của trang Entrepreneur để có được hướng đầu tư tốt nhất cho mình.
Điều gì sẽ xảy ra với khu vực nhượng quyền trong tương lai? Căn cứ vào dự báo 10 xu thế ngành hàng trong năm 2012 của trang Entrepreneur thì những ngành chăm sóc trẻ em và người lớn tuổi trước đã mạnh thì sắp tới còn mạnh hơn bởi nhóm đối tượng khách hàng của họ đang ngày càng trở nên đông đảo.

Những ngành khác như dịch vụ y tế và spa dù mới “làm mưa làm gió” ở lĩnh vực nhượng quyền nhưng trong năm tới, những phân nhóm ngành này hoàn toàn có điều kiện để tiếp tục tăng trưởng, bất kể tình hình kinh tế của thế giới sẽ ra sao và bất kể ngành đó mới hay cũ. 

(Lưu ý: Dự báo xu thế ngành hàng này không nhằm mục đích giới thiệu hay quảng bá cho một công ty nhượng quyền nào đó. Và dù có “nóng” hay không thì bạn cũng nên xem xét thật kỹ những cơ hội và thách thức trước khi tham gia vào một ngành hàng. Nói một cách khác, bạn phải đọc thật kỹ hồ sơ của đơn vị nhượng quyền, tham khảo ý kiến của luật sư và kế toán, trao đổi với những đơn vị được nhượng quyền trước và nay để tìm hiểu xem đơn vị nhượng quyền có phù hợp với mình hay không).

Ngành ăn nhanh

Một thế hệ mới các cửa hàng ăn nhanh chất lượng hơn đang mọc lên trong khi các đơn vị nhượng quyền “tiền bối” tiếp tục thử nghiệm những món mới trên thực đơn của mình để có thể cạnh tranh.

Ngành chăm sóc trẻ em

Chăm sóc trẻ em là nhu cầu không thể thiếu và hiện các đơn vị nhượng quyền đang dành cho những ông bố bà mẹ vô số các lựa chọn, từ dịch vụ cô trông trẻ, bảo mẫu cho đến các trung tâm chăm sóc, giáo dục trẻ em. 


Ngành bồi dưỡng năng khiếu cho trẻ

Trẻ em ngày càng năng động. Chính vì thế nên dù có mở lớp vẽ, tạo hình, thể thao, vi tính, hay khoa học thì đơn vị nhượng quyền vẫn sẽ hút khách hàng nhí. 


Ngành thể dục thể thao

Ngành thể dục, thể thao sẽ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Chỉ cần có quyết tâm là người tập có vô khối các phòng tập nhượng quyền để lựa chọn học khiêu vũ, võ thuật, đấm bốc…


Ngành dịch vụ y tế 

Ngày càng có nhiều các công ty tìm kiếm và lôi kéo các bác sỹ phẫu thuật tham gia khu vực nhượng quyền để làm những dịch vụ như giảm cân, vật lý trị liệu, nắn xương và đặc trị. 

Ngành bán đồ thanh lý 

Các cửa hàng bán đồ thanh lý đang tái sinh trở lại nhờ những vị khách hàng muốn tìm cách bán bớt đồ của mình đi để có thêm tiền. Mặc dù quần áo là món hàng thanh lý chủ yếu nhưng bên cạnh đó bạn cũng có thể thấy cả đồ điện tử, thể thao và thậm chí cả nhạc cụ.


Ngành kinh doanh bánh kẹp sandwich

Năm nay Subway đã “qua mặt” McDonald's để trở thành chuỗi cửa hàng bánh mỳ kẹp lớn nhất trên thế giới. Điều này chứng tỏ bánh mỳ kẹp “lợi hại” thế nào. Và ngành này hiện vẫn còn nhiều đất cho những cửa hàng nhượng quyền nhỏ phát triển, bất kể là đã có một gã khổng lồ có tên Subway. 

Ngành chăm sóc người cao tuổi 

Với thực tế là đứa trẻ đầu tiên của thế hệ baby boomer (bùng nổ dân số) đã bước sang tuổi thứ 65 vào năm nay thì thị trường dịch vụ cho người cao tuổi vốn đã mạnh sẽ còn hứa hẹn những cú đột phá. Các đơn vị nhượng quyền hiện đang “chào” nhiều loại dịch vụ, từ đơn giản như cho thuê người làm bầu bạn cho đến chăm sóc y tế, trại an dưỡng, dịch vụ vận chuyển...

Ngành dịch vụ Spa 

Trái với dự đoán, các doanh nghiệp nhượng quyền chuyên cung cấp các dịch vụ xa xỉ như mát-xa và spa sẽ “phất” trong điều kiện kinh tế khó khăn, chủ yếu là nhờ mô hình hội viên/khách hàng thường xuyên. 


Ngành gia sư

Giáo dục là lĩnh vực các ông bố bà mẹ sẽ không tiếc tiền đầu tư cho con cái họ. Vì thế không có gì lạ khi số trung tâm gia sư nhượng quyền đã lên tới hàng ngàn và sẽ còn tiếp tục tăng trong tương lai. 

Sang số

Một điểm mấu chốt làm cho các trung tâm thể dục, thể thao nhượng quyền rất được “chuộng”: đó là sự tiện lợi. Một trung tâm thể dục nhỏ mở cửa từ sáng đến đêm dĩ nhiên là đáp ứng được điều kiện của tất cả mọi người, từ những chuyên gia chỉ có nửa giờ ăn trưa cho đến những công nhân làm ca. Tuy nhiên, vẫn còn một số nhóm đối tượng bị bỏ quên: những người lái xe tải đường dài, những đứa trẻ béo phì vì gà rán, khoai tây chiên, những đối tượng ít vận động.


Chính vì thế mới đây Snap Fitness đã phối hợp với Rolling Strong – một công ty chăm sóc sức khỏe cho các lái xe – để mở thí điểm những phòng tập di dộng tại các điểm đỗ xe tải Pilot Flying J trên khắp nước Mỹ trong quý 1 năm 2012. Thay vì ngồi trong bãi để xe nhâm nhi trà, cà phê, những người lái xe có thể vào phòng tập rộng 90m2 đặt trong một xe công-ten-nơ để sử dụng máy chạy bộ, xe tập đạp và máy tạ. Mức phí hàng tháng để được tham gia các phòng tập kiểu này của Snap Fitness là 29,95 USD. Với mô hình dịch vụ này, tất cả các bên đều được lợi: người lái xe được nâng cao sức khỏe, Snap có thêm khách hàng, Pilot Flying J thu hút mọi người đến để tập luyện. 

"Lái xe là những người bị chi phối bởi thói quen” – Peter Taunton, người sáng lập kiêm CEO của Snap nhận xét. “Khi thói quen đã ăn sâu, họ sẽ lập lịch trình cho chuyến đi để có thể dừng lại tập thể dục trước khi lên xe đi tiếp chặng đường dài hàng trăm cây số”. 

Điểm đỗ xe mới chỉ là khởi đầu. Snap và các trung tâm thể dục, thể thao đang tìm cách đưa các phòng tập vào khách sạn, sân bay, khu ký túc xá và nhiều khu vực tiềm năng khác. Lời khuyên của tác giả: nên đặt cả phòng tập trong những cửa hàng ăn nhanh – như thế mọi người sẽ đỡ mất công chạy sang phòng tập. 

Trần Thu Phượng Dịch từ Entrepreneur
Bài đọc thêm:

Feb 21, 2012

Khủng hoảng: Đừng trông đợi quản trị toàn cầu?

[Marketing3k.vn] Sự vắng mặt của các tổ chức toàn cầu - hành động như người cho vay cuối cùng hoặc thực hiện những gói kích thích tài chính phối hợp - làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng và trì hoãn sự phục hồi.

Mọi người đều đồng ý rằng nền kinh tế thế giới ốm yếu nhưng việc chuẩn bệnh rõ ràng phụ thuộc vào việc bạn sống ở nơi nào trên thế giới. Tại Washington, những ngón tay buộc tội hướng vào Trung Quốc, đổ lỗi cho chính sách tiền tệ của nước này gây ra sự mất cân bằng thương mại lớn và "phá hoại công ăn việc làm" tại Mỹ.

Đến Seoul hoặc Brazil, bạn sẽ nghe thấy những lời than phiền rằng các chính sách tiền tệ siêu nới lỏng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã khiến cho các thị trường mới nổi bị cuốn trôi trong vốn nổi và gia tăng bóng ma ám ảnh của bong bóng bất động sản. Tại Berlin, những lời trách cứ là về sự vắng mặt của sự đáng tin cậy về tài chính và cải cách cơ cấu ở bất cứ nơi nào khác tại châu Âu hoặc tại Mỹ.

Lỗi lầm, thưa mọi người, không phải ở những nước trên hay cũng không phải ở chính bản thân chúng ta. Nhờ có toàn cầu hóa, lỗi lầm nằm trong các đối tác thương mại của chúng ta!

Như bản thân nó có thể chỉ ra, quan điểm này không phải là không đáng khen. Khi các nền kinh tế trở nên gắn bó với nhau, các quyết định được đưa ra tại một nơi trên thế giới có tác động đến những nơi khác, thường tạo ra những hệ quả ngoài ý muốn.

Sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng thế chấp phẩm chất kém không chỉ bị thúc đẩy bởi những thất bại điều tiết trong nước mà còn bởi "thặng dư tiết kiệm" toàn cầu, đẩy các ngân hàng vào một cuộc dượt đuổi lợi nhuận điên cuồng. Cuộc khủng hoảng Mỹ nhanh chóng biến thành sự phát tán toàn cầu do sự hòa lẫn các bảng cân đối tài sản và nợ xuyên các quốc gia.

Sự vắng mặt của các tổ chức toàn cầu - hành động như người cho vay cuối cùng hoặc thực hiện những gói kích thích tài chính phối hợp - làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng và trì hoãn sự phục hồi. Và giờ, các chính sách tài khóa, tiền tệ và tỷ giá hối đoái riêng rẽ đang lan tràn xuyên khắp các biên giới quốc gia, báo hiệu các cuộc chiến tranh tiền tệ và chủ nghĩa bảo hộ.

Chúng ta sẽ giải quyết những thách thức này như thế nào là câu hỏi kinh tế lớn nhất thời đại chúng ta. Một biện pháp được các nhà kỹ trị và hầu hết các nhà hoạch định chính sách ủng hộ, ít nhất là trước khi tính đến các chính sách trong nước, là tìm kiếm sự an ủi trong việc quản trị toàn cầu lớn hơn bao giờ hết.


Sau cùng thì các vấn đề toàn cầu đòi hỏi các giải pháp toàn cầu, nghĩa là củng cố các tổ chức quốc tế giống như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tăng hiệu quả của các diễn đàn toàn cầu ví như G-20, và đàm phán các tiêu chuẩn và quy tắc quốc tế chặt chẽ hơn (như đã từng xảy ra với các yêu cầu về an toàn vốn là một ví dụ).

Một biện pháp khác là công nhận rằng quản trị toàn cầu chắc cắn vẫn còn chưa hoàn thiện và tiết chế các tác dụng phụ thông qua hình thức toàn cầu hóa kinh tế cẩn trọng hơn. Chiến lược này đòi hỏi một số ngáng trở hoạt động của nền kinh tế toàn cầu để mở rộng không gian cho các chính sách trong nước và hạn chế ảnh hưởng của việc lan rộng bất lợi từ hoạt động của các nước khác. Giải pháp này có vẻ mang tính bảo hộ nhưng nó rút cuộc có thể đảm bảo sự toàn cầu hóa lâu bền hơn.

Rất nhiều vấn đề của nền kinh tế thế giới ngày nay xuất phát từ sự không sẵn sàng công nhận rằng các mục tiêu chính sách trong nước rút cuộc sẽ chiến thắng các trách nhiệm toàn cầu cho dù chúng ta có giả vờ rằng những trách nhiệm này có thể được gộp vào các cam kết quốc tế nhiều đến đâu. Hãy xem xét một vài ví dụ.

Vòng đàm phán Uruguay của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được hoan nghênh rộng rãi như một thành tựu lớn vì nó đặt trợ cấp và rất nhiều loại chính sách công nghiệp khác được thực hiện bởi các quốc gia đang phát triển dưới những nguyên tắc quốc tế nghiêm khắc. Tuy nhiên, những hạn chế của WTO chỉ đơn giản là khiến cho các chính phủ theo đuổi những mục tiêu tương tự thông qua các biện pháp khác.

Điều này có một số sự hiểu ngầm trong trường hợp của Trung Quốc. Khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO vào năm 2001, nước này không còn được dựa vào thuế nhập khảu và trợ cấp. Vì vậy, thay vào đó Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy các ngành công nghiệp thông qua đồng tiền bị định giá thấp. Thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc tăng nhảy vọt làm dấy lên sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô toàn cầu và cùng với đó là căng thẳng trong mối quan hệ kinh tế Trung - Mỹ.

Nền kinh tế thế giới đáng lẽ đã tốt hơn với ít hạn chế hơn về việc sử dụng các chính sách công nghiệp của Trung Quốc (và các nước đang phát triển khác). Và, nhìn về phía trước, nếu các nước còn lại trên thế giới muốn Trung Quốc chấp nhận sự giám sát đa phương lớn hơn đối với cân bằng thương mại của nước này thì chắc chắn phải có gì để đổi lại cho điều đó - có thể là sự miễn trừ với những quy định của WTO về trợ cấp.

Tương tự vậy, khi các thị trường mới nổi mở cửa với toàn cầu hóa tài chính, họ suy luận rằng các luồng tiền sẽ hỗ trợ sự phát triển kinh tế nước họ. Các nước này nghĩ rằng các chính sách kinh tế vĩ mô thích hợp và các quy định khôn ngoan (cùng với sự hỗ trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế) sẽ giúp họ ứng phó với những tác động bất lợi. Tuy nhiên, thị trường tài chính hóa ra lại là một người bạn phù thịnh: chẳng thấy mặt đâu khi cần nhất.

Điều đó đẩy các quốc gia đang phát triển vào những nỗ lực tốn kém để bảo vệ nền kinh tế nước họ khỏi sự không kiên định của các thị trường tài chính. Tệ hơn nữa, họ đã phải áp dụng những chiến lược - chẳng hạn như can thiệp tiền tệ và tích lũy dự trữ ngoại hối - nhằm đẩy những bất ổn tài chính sang nước khác. Đáng lẽ sẽ tốt hơn khi tránh tất cả những việc này bằng cách thực hiện việc mở cửa với thị trường tài chính toàn cầu cận thẩn hơn ngay từ đầu.

Những người ủng hộ quản trị toàn cầu lớn hơn cảnh báo chúng ta rằng không có những quy tắc kinh tế quốc tế chặt chẽ hơn, sự miễn phí-cho-tất cả sẽ khiến cho tất cả các nước còn tồi tệ hơn. Nhưng sẽ là sai lầm khi tưởng tượng nền kinh tế thế giới giống như thể, ví dụ, khí hậu toàn cầu - với sức khỏe và sự ổn định phụ thuộc vào việc theo đuổi những mục tiêu toàn cầu thay vì cục bộ từng quốc gia.

Các nhà kinh tế giảng dạy tác dụng của thương mại mở cửa bởi vì nó mang lợi cho chúng ta chứ không phải vì nó mang lại lợi ích cho người khác. Đưa nền kinh tế trong nước tới thị trường toàn cầu - không giống như cắt giảm khí thải nhà kính - mang lại những lợi ích của riêng nó. Một nền kinh tế thế giới được tạo thành từ các quốc gia theo đuổi các lợi ích quốc gia của riêng minh có thể không bị siêu toàn cầu hóa nhưng nhìn chung nó sẽ là một nền kinh tế mở.

Chắc chắn, nền kinh tế toàn cầu cần một số những quy tắc giao thông nơi có những hiệu ứng lan tỏa xuyên biên giới rõ ràng. Tuy nhiên sự cân bằng giữa đặc quyền quốc gia và các quy tắc quốc tế phải dựa trên thực tế chính trị. Nếu chúng ta đổi hướng quá xa với sự quản trị toàn cầu, chúng ta sẽ kết thúc với những quy tắc vô nghĩa chắc chắn sẽ bị coi thường.

Tác giả: DANI RODRIK* (TUYẾN NGUYỄN DỊCH) 
______________

* Dani Rodrik là Giáo sư Kinh tế chính trị học tại trường Chính phủ John F. Kennedy thuộc trường đại học Harvard và là tác giả của cuốn One Economics, Many Recipes: Globalization, Institutions, and Economic Growth (tạm dịch: Một Kinh tế học, Nhiều phương pháp: Toàn cầu hóa, Các tổ chức và Tăng trưởng kinh tế).